Sốt rét

14/11/2016 09:47:43
Bệnh sốt rét là một bệnh do ký sinh trùng sốt rét gây nên, bệnh do muỗi Anophen truyền từ người bệnh sang người lành.
Bệnh sốt rét là một bệnh do ký sinh trùng sốt rét gây nên, bệnh do muỗi Anophen truyền từ người bệnh sang người lành.
 
Ở nước ta có khoảng 45 triệu dân sống trong vùng có lưu hành sốt rét, chiếm 3/4 diện tích cả nước. Bệnh có nhiều ở các vùng rừng núi, vùng ven biển nước lợ và dễ gây thành dịch.
 
Đặc biệt là các tỉnh miền Trung-Tây Nguyên hoặc những vùng đồng bằng và thành phố có số đông người thường xuyên qua lại vùng sốt rét lưu hành để làm ăn sinh sống thì luôn có số lượng lớn những người mắc sốt rét và có sự gia tăng rõ rệt vào những tháng đầu mùa mưa.
 
Triệu chứng của bệnh thường xảy ra sau 8-25 ngày ủ bệnh. Có các biểu hiện như người bị cảm cúm. Các triệu chứng điển hình của bệnh sốt rét là kịch phát, đó là sự xuất hiện theo chu kỳ của cơn lạnh đột ngột sau đó run rẩy và sau đó sốt và đổ mồ hôi.
 
Một cơn sốt thường kéo dài từ 2 đến 8 giờ, và ngoài cơn sốt bệnh nhân không có cảm giác bị bệnh. Sốt thường sẽ cao từ từ hoặc cao đột ngột rồi hạ sốt dần và người bệnh lại cảm thấy bình thường. Ngoài ra có thể có các triệu chứng đi kèm khác như là: nhức đầu, mệt mỏi, suy nhược, buồn nôn, đau cơ, rối loạn tiêu hóa…
 
Người mắc bệnh sốt rét thường xuyên bị thiếu máu, người gầy, da xanh, niêm mạc mắt nhợt. Sốt rét có thể làm cho lách to, phù nề do suy dinh dưỡng, phụ nữ có thai mắc sốt rét dễ bị đẻ non, sảy thai, thai chết lưu, trẻ em mắc sốt rét dễ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn.
 
Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, người bệnh dễ thành nguồn dịch lây truyền nhanh chóng từ người này sang người khác. Dễ chuyển thành ác tính và dẫn đến tử vong.
 
Lưu ý: Nếu thấy người cảm thấy có các triệu chứng hay dấu hiệu như trên, cần theo dõi nhiệt độ cơ thể thường xuyên bằng nhiệt kế hồng ngoại; Nếu uống thuốc hạ sốt không thấy đỡ, không nên tiếp tục cho uống mà cần đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất để chẩn đoán và có phương pháp điều trị phù hợp nhất.
 

Nguyên nhân:

Nguyên nhân gây bệnh sốt rét là ký sinh trùng đơn bào plasmodium. Có khoảng 170 loài plasmodium, nhưng chỉ có 4 loài gây sốt rét ở người là:
 
P. falciparum. Chủ yếu gặp ở châu Phi, gây triệu chứng nặng nhất và chiếm phần lớn các trường hợp tử vong do sốt rét.
 
P. vivax. Chủ yếu gặp ở vùng nhiệt đới của châu Á, gây triệu chứng nhẹ hơn những có thể tồn tại trong gan và gây tái phát bệnh trong nhiều năm.
 
P. malariae. Được phát hiện thấy ở châu Phi, có thể gây triệu chứng sốt rét điển hình nhưng trong một số ít trường hợp có thể nằm yên trong máu mà không gây triệu chứng. Bệnh nhân có thể làm lây ký sinh trùng sang người khác qua vết đốt của muỗi hoặc qua truyền máu.
 
P. ovale. Chủ yếu gặp ở vùng Tây Phi. Tuy hiếm gặp nhưng cũng có thể gây bệnh tái phát.

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Biểu hiện của bệnh sốt rét có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng tùy thuộc vào nhiều yếu tố, loại ký sinh trùng mắc phải, tình trạng miễn nhiễm của ký chủ, cơ địa ký chủ (thai nghén, suy dinh dưỡng…). Thời kỳ ủ bệnh trong bệnh sốt rét là thời gian từ khi bị nhiễm ký sinh trùng cho đến khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng đầu tiên. Thời gian này trung bình từ 9 đến 30 ngày thay đổi tùy theo từng chủng loại ký sinh trùng sốt rét.
 
Biểu hiện lâm sàng kinh điển của bệnh sốt rét bao gồm các cơn sốt điển hình trải qua 3 giai đoạn: rét run, sốt cao, vã mồ hôi. Một cơn sốt thường kéo dài từ 2 đến 8 giờ, và ngoài cơn sốt bệnh nhân không có cảm giác bị bệnh. Ngoài ra có thể có các triệu chứng đi kèm khác như là: nhức đầu, mệt mỏi, suy nhược, buồn nôn, đau cơ, rối loạn tiêu hóa…
 
Đối với những người bị sốt rét lần đầu, kiểu sốt cơn điển hình như thế thì không thường gặp, trong khi những triệu chứng đi kèm khác lại thường xuất hiện, làm cho chúng ta dễ nhầm lẫn với các bệnh khác như là bệnh sốt xuất huyết, cúm, nhiễm siêu vi…
 
Người mắc bệnh sốt rét thường xuyên bị thiếu máu, người gầy, da xanh, niêm mạc mắt nhợt. Sốt rét có thể làm cho lách to, phù nề do suy dinh dưỡng, phụ nữ có thai mắc sốt rét dễ bị đẻ non, sảy thai, thai chết lưu, trẻ em mắc sốt rét dễ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn.
 
Người mắc sốt rét không được điều trị sẽ chuyển thành sốt rét ác tính và chết. Nếu mắc bệnh sốt rét không được điều trị hoặc điều trị không đúng sẽ là nguồn bệnh để lây sang người khác làm cho nhiều người mắc bệnh, gây nên dịch sốt rét.
 
Bệnh sốt rét làm giảm sức lao động, tốn tiền mua thuốc nên giảm thu nhập, dẫn tới nghèo đói, vì vậy bệnh sốt rét có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội.

Chẩn đoán bệnh:

Chẩn đoán bệnh sốt rét, dựa vào 3 yếu tố: dịch tễ, biểu hiện lâm sàng, và xét nghiệm tìm ký sinh trùng sốt rét trong máu.
 
Với các biệu hiện lâm sàng đa dạng, phong phú, trong giai đoạn khởi đầu triệu chứng thường không điển hình, mơ hồ, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác thì yếu tố dịch tễ (sống hoặc đi đến vùng sốt rét lưu hành trong vòng 1 tháng, có tiền căn sốt rét trong vòng 2 năm) sẽ đóng vai trò quan trọng có thể giúp chúng ta nghĩ đến và xác định bệnh một cách dễ dàng.
 
Việc xác định bệnh sốt rét rất đơn giản bằng kỹ thuật soi tiêu bản máu tìm ký sinh trùng sốt rét, cũng như test nhanh tìm kháng nguyên sốt rét có thể được thực hiện ở các cơ sở y tế phường xã.
 
Chính vì vậy, trong giai đoạn dịch sốt rét lan rộng, khi chúng ta bị sốt, hoặc có triệu chứng nghi ngờ sốt rét thì cần sớm đến các cơ sở y tế địa phương để được chẩn đoán xác định và điều trị kịp thời.

Phòng ngừa:

Hiện nay, khi chưa có vắc-xin phòng ngừa sốt rét, thì việc phòng chống muỗi truyền bệnh vẫn là biện pháp hữu hiệu nhất.
 
Có nhiều phương pháp khác nhau để phòng chống muỗi truyền bệnh sốt rét. Người ta có thể diệt muỗi bằng hóa chất hoặc ngăn sự tiếp xúc giữa người và muỗi truyền bệnh.
 
Vì đa số muỗi sốt rét vào nhà đốt rồi nghỉ lại trong nhà nên các chương trình phòng chống sốt rét ở một số nước nhiệt đới coi trọng việc phun hóa chất có tác dụng diệt côn trùng kéo dài vào tường vách.
 
Hiện nay, các vùng có nguy cơ cao mắc bệnh sốt rét thì biện pháp dùng màn tẩm hóa chất trong cộng đồng để phòng chống muỗi được sử dụng nhiều. Và có một phương pháp mang lại kết quả lâu dài đó là san lấp các ao tù, vũng nước để loại trừ các ổ loăng quăng (ấu trùng của muỗi).
 
Ngoài ra người ta cũng có thể loại trừ các ổ loăng quăng bằng cách thường xuyên vớt rong, cỏ hai bên bờ ao, khơi thông dòng chảy hoặc thả cá vào bể, chum, vại chứa nước để cá ăn loăng quăng.
 
Ở các vùng có bệnh sốt rét lưu hành, bà con cũng cần chú ý thực hiện một số biện pháp nhằm ngăn cản sự tiếp xúc giữa muỗi và người như mặc quần dài, áo tay dài khi đi làm nương, làm rừng, bôi thuốc xua muỗi lên những nơi da hở, đốt hương muỗi, dọn dẹp nhà cửa gọn gàng…
 
Bà con cũng có thể đóng lưới ở tất cả các cửa sổ cũng như cửa ra vào và sử dụng quạt máy để giảm tối đa sự xâm nhập của muỗi vào nhà. Và điều quan trọng nhất, hữu hiệu nhất để phòng chống sốt rét hiện nay là 'Ngủ màn thường xuyên, màn phải được tẩm hóa chất và phun hóa chất diệt muỗi'.

Điều trị:

Sốt rét là một bệnh có thể dẫn đến tử vong, nhất là khi đã có biến chứng, nên luôn luôn được xếp vào thứ tự ưu tiên, cần được điều trị sớm để hy vọng có kết quả tốt.
 
Sự chọn lựa thuốc, cách dùng thuốc tùy theo từng loại ký sinh trùng mắc phải, tùy từng vùng địa lý còn nhạy cảm với thuốc hay không, cũng như tình trạng lâm sàng của bệnh nặng hay nhẹ.
 
Điều trị sốt rét cần phải đạt được 2 mục đích: cắt cơn sốt, làm sạch ký sinh trùng, phục hồi sức khỏe cho bệnh nhân và ngăn ngừa tái phát, ngăn ngừa sự lây truyền mầm bệnh qua những người khác.
 
Hiện nay, bên cạnh những loại thuốc kinh điển (quinine, chloroquine, primaquine…), nhiều dược chất mới (artemisinine, arterakin…) cũng đã được đưa vào điều trị, giúp cho chúng ta có sự chọn lựa và phối hợp thuốc tốt nhất để đạt được mục đích điều trị.

Biến chứng:

- Rối loạn chức năng gan: Khiến bệnh nhân gầy yếu, hay bị rối loạn tiêu hóa do protit máu toàn phần giảm, albumin giảm.
 
- Viêm gan mạn: Gan to, bờ sắc, sờ chắc tay, bệnh nhân hay mệt, ăn chậm tiêu, hay rối loạn tiêu hóa... Xét nghiệm enzym SGOT/SGPT và bilirubin tăng nhẹ. Khi soi ổ bụng hoặc sinh thiết gan thấy hình ảnh viêm gan mạn.
 
- Xơ gan phát triển sau một thời gian viêm gan (xơ gan sau hoại tử) hoặc xơ gan tiến triển cùng với lách xơ.
 
- Lách to: Là một triệu chứng đặc trưng của bệnh sốt rét. Bệnh nhân sống càng lâu trong vùng sốt rét hoặc bị bệnh càng nhiều thì lách càng to. Lách là "mồ chôn" các hồng cầu nhiễm ký sinh trùng sốt rét và các hồng cầu chứa kháng nguyên.
 
- Cường lách: Ở những bệnh nhân này dù trong máu đã có thể hết ký sinh trùng sốt rét nhưng hồng cầu, hồng cầu lưới và có thể cả bạch cầu và tiểu cầu đều giảm thấp. Những người bị sốt rét trong giai đoạn sơ nhiễm nếu phòng bệnh và điều trị tốt thì khi hết sốt, hết ký sinh trùng thì lách có thể co nhỏ lại.
 
- Viêm cầu thận: Do ký sinh trùng sốt rét P.falciparum gây tắc mạch.
 
- Hội chứng thận hư ở trẻ em.
 
- Phù nề: Phù ở hai chân, mặt... do thiểu dưỡng, protein và albumin trong huyết thanh thấp, cũng có thể do viêm cầu thận hoặc hội chứng thận hư.
 
- Biến chứng khác: Thiếu máu, thiếu sắt, thiếu axit folic trong máu, hạ đường máu, đau và viêm dây thần kinh...

Chế độ chăm sóc:

Người bị sốt rét phải được theo dõi chặt chẽ về nhiệt độ, mạch, huyết áp, tình trạng mất nước và toàn trạng.
 
Khi sốt cao, người bệnh cần nằm cố định ở giường, không được tự ngồi dậy và đi lại vì rất dễ ngã, gây ra các biến chứng nguy hiểm.
 
Cần đôn đốc và kiểm tra việc dùng thuốc của bệnh nhân cho đúng phác đồ (đủ liều, đủ ngày, đúng khoảng cách). Bệnh nhân sốt rét khi uống thuốc rất dễ bị nôn, khi đó phải uống lại cho đủ liều. Trẻ em uống thuốc khó khăn có thể dùng dạng viên đạn đặt hậu môn.
 
Bệnh nhân sốt rét cần được theo dõi để phát hiện sớm các triệu chứng dự báo sốt rét ác tính như: đang sốt cơn chuyển sang sốt liên tục hoặc dao động, chồng cơn, đôi lúc lú lẫn thoáng qua, mất ngủ trắng đêm, vã mồ hôi thành giọt, có lúc đái dầm (tuy chưa hôn mê), nôn nhiều, tiêu lỏng, li bì hoặc kích thích...
 
Phải để ý phát hiện các triệu chứng ngoại ý (tác dụng phụ) của thuốc như: ban, dị ứng, đái huyết cầu tố (nước tiểu màu hung đỏ)...
 
Bệnh nhân sốt rét cần được cho ăn đảm bảo đủ calo ngay từ ngày đầu, tốt nhất là ăn lỏng (cháo, sữa...) khi sốt cao và ăn đặc (cơm) khi đã hạ sốt. Cho uống nhiều nước (nước sôi để nguội, nước hoa quả, nước cháo...). Đối với trẻ em đang bú, phải tiếp tục cho bú...
 
Khi bệnh nhân ăn uống kém, cần bổ sung năng lượng và dịch thể bằng đường truyền tĩnh mạch.
 
Tình trạng sốt cao (trên 39 độ C) dễ gây kích thích, vật vã, mê sảng, nôn, trẻ dễ bị co giật. Cần hạ sốt bằng các biện pháp như cởi nới bớt quần áo, để bệnh nhân nằm nơi thoáng mát, lau người bằng khăn ấm... Khi sốt quá cao (trên 40 độ C), có thể dùng paracetamol (uống hoặc viên đạn đặt hậu môn). Không nên dùng các thuốc hạ sốt có aspirin.
 
Bệnh nhân sốt rét rất dễ bị thiếu máu, nhất là những người sốt dai dẳng, phụ nữ có thai và trẻ em. Thiếu máu ở bệnh nhân sốt rét thường là thiếu máu nhược sắc (giảm hồng cầu và huyết cầu tố) do vỡ hồng cầu, rối loạn chuyển hóa sắt và thiểu dưỡng.
 
Do vậy, ngoài vấn đề nuôi dưỡng tốt, bệnh nhân sốt rét cần được bổ sung sắt và các nguyên tố vi lượng (bằng ăn uống hoặc thuốc), tăng cường các vitamin, nhất là vitamin A, kẽm (giúp chuyển hóa sắt) và axit folic. Khi thiếu máu nặng, cần được truyền máu cùng nhóm.

Bài thuốc dân gian: