Quai bị

14/11/2016 09:47:43
Bệnh quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, do một loại siêu vi thuộc họ Paramyxoviridae gây ra.
Bệnh quai bị là gì?
 
Bệnh quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, do một loại siêu vi thuộc họ Paramyxoviridae gây ra.
 
Biểu hiện chủ yếu của bệnh là sốt và sưng, đau một hoặc nhiều tuyến nước bọt. Thường gặp ở tuyến nước bọt mang tai, đôi khi có thể viêm ở tuyến nước bọt dưới lưỡi hoặc tuyến dưới hàm.
 
Ai có thể mắc bệnh?
 
Hơn 80% bệnh xảy ra ở trẻ em dưới 15 tuổi, thường gặp nhất là trẻ từ 6-10 tuổi. Người lớn cũng có thể bị mắc bệnh nếu không tiêm ngừa phòng bệnh trước đó.
 
Dịch bệnh thường xuất hiện ở những nơi tập trung đông đúc như trường học, ký túc xá v.v…
 
Bệnh lây như thế nào?
 
Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp do tiếp xúc với các giọt nước bọt, hoặc các chất tiết mũi họng của người bệnh được văng ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi.
 
Người bị bệnh quai bị có thể lây lan cho người khác 1 tuần trước khi sưng tuyến mang tai và kéo dài 2 tuần sau khi sưng tuyến mang tai.
 
Thời gian lây mạnh nhất vào khoảng 2 ngày trước khi viêm tuyến mang tai.

Nguyên nhân:

Bệnh quai bị do một loại virus thuộc họ Myxovirus gây nên.
 
Nguồn lây bệnh quai bị là người đang mắc bệnh quai bị lây cho người lành chưa có kháng thể chống virus quai bị. Bệnh quai bị khởi đầu là viêm tuyến nước bọt (tuyến mang tai).

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Kể từ khi virus quai bị vào cơ thể cho đến khi có triệu chứng lâm sàng đầu tiên. Đây là giai đoạn ủ bệnh.
 
Sau thời kỳ ủ bệnh là xuất hiện sốt cao đột ngột, có thể thân nhiệt lên tới 38-39 độ C, kèm theo đau đầu, mệt mỏi toàn thân, chán ăn, ngủ kém.
 
Với các triệu chứng này, ở giai đoạn đầu của bệnh (giai đoạn tiên phát) có thể nhầm với một số bệnh khác như viêm họng, xoang, phế quản cấp tính. Sau khi sốt cao kéo dài từ 1 - 3 ngày thì tuyến nước bọt bị sưng to. Đầu tiên là sưng một bên, sau vài ngày tiếp tục sưng tuyến nước bọt còn lại.

Chẩn đoán bệnh:

Trẻ em bị sưng tuyến mang tai kéo dài 2 ngày hoặc lâu hơn mà không có nguyên nhân rõ ràng. Tuy nhiên, trong điều kiện Việt Nam thì yếu tố miễn dịch bản thân (trẻ có được tiêm chủng hay chưa) và các dữ kiện dịch tễ học khác (có tiếp xúc nguồn lây không, trong lớp hay trong trường có học sinh nào mắc bệnh tương tự trước đó…) thường giúp chẩn đoán và giúp đưa ra những biện pháp cách ly, phòng ngừa thích hợp.
 
Có thể phân lập virus quai bị bằng phương pháp nuôi cấy tế bào từ các bệnh phẩm phết họng, nước tiểu, dịch não tủy hặc có thể xét nghiệm xác định sự gia tăng nhanh chóng hiệu giá kháng thể IgG khi so sánh hai thời điểm mắc bệnh cấp và giai đoạn hồi phục bệnh.
 
Xét nghiệm này có thể thực hiện bằng các kỹ thuật huyết thanh học tiêu chuẩn như cố định bổ thể (complement fixation), phản ứng trung hòa (neutralisation), ức chế ngưng kết hồng cầu (hemagglutination inhibition test), định lượng miễn dịch enzyme (enzyme immunoassay) hoặc xét nghiệm định lượng kháng thể IgM quai bị (mumps IgM antibody test).
 
Nhiễm trùng cũ có thể xác định bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ enzyme hay phản ứng trung hòa, còn kỹ thuật cố định bổ thể và ức chế ngưng kết hồng cầu không phù hợp trong trường hợp này.
 
Test da (skin test) cũng không đáng tin cậy, do đó không nên dùng test này để tìm hiểu tình trạng miễn dịch của trẻ.

Phòng ngừa:

Người bệnh phải nghỉ ngơi ở nhà, không đi làm, không đi học. Thời gian cách ly người bệnh trong khoảng 10 ngày. Hạn chế tiếp xúc với người bệnh, khi tiếp xúc phải mang khẩu trang.
 
Vệ sinh cá nhân và nhà cửa:  
 
+ Không sử dụng chung các dụng cụ ăn uống (muỗng, nĩa, ly, chén, dĩa v.v…)
 
+ Thường xuyên lau sạch sàn nhà, bàn ghế, rửa sạch các đồ chơi của trẻ.
 
+ Rửa tay nhiều lần bằng xà phòng trong ngày, nhất là sau khi đi vệ sinh và trước khi ăn.
 
+ Che miệng khi ho, khi hắt hơi, sau đó phải rửa tay ngay bằng xà phòng.
 
+ Thực hiện tiêm phòng vắc-xin để phòng bệnh chủ động.
 
Lưu ý: Vì vắc-xin ngừa quai bị chứa virus sống, nên không tiêm ngừa quai bị khi:
 
- Suy giảm miễn dịch nặng.
 
- Bệnh ác tính toàn thân: bệnh bạch cầu,  u lympho…
 
- Đang điều trị corticoid toàn thân liều cao, thuốc chống chuyển hóa, độc tế bào, xạ trị chống ung thư.
 
- Phụ nữ mang thai và nghi ngờ mang thai không được tiêm vắc-xin quai bị.
 
Những phụ nữ được tiêm vắc-xin quai bị cần áp dụng biện pháp ngừa thai trong thời gian ít nhất là 28 ngày sau khi tiêm.  

Điều trị:

Khi nghi ngờ mắc bệnh quai bị, nên đi khám bác sĩ để được chẩn đoán chính xác. Ðối với thể bệnh viêm tuyến nước bọt đơn thuần, cần vệ sinh họng, miệng, đánh răng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy. Có thể súc họng, miệng bằng các dung dịch sát khuẩn nhẹ có bán tại các quầy dược phẩm như axit boric 5%, nước muối sinh lý và một số dung dịch sát khuẩn khác. Dùng thuốc hạ nhiệt, giảm đau, thuốc chống viêm và dùng thêm sinh tố.
 
Ngoài ra, người bệnh cần uống nhiều nước vì sốt làm mất nước, mất chất điện giải. Cần nghỉ ngơi tại giường, tránh tiếp xúc với những người có nguy cơ cao mắc bệnh quai bị như lứa tuổi thanh thiếu niên tối thiểu 10 ngày. Người bệnh rất cần đeo khẩu trang để tránh lây cho người khác.
 
Ðối với thể bệnh có viêm tinh hoàn, cần nghỉ ngơi tại giường khi tinh hoàn vẫn còn sưng, đau. Cần mặc quần lót để treo nhẹ tinh hoàn lên. Ðối với thể bệnh có viêm tinh hoàn (nam giới) hoặc buồng trứng (nữ giới), rất cần có ý kiến tư vấn của bác sĩ, tốt nhất là bác sĩ chuyên khoa.
 
Những bệnh viêm tụy, viêm não, màng não rất cần vào bệnh viện để được khám và theo dõi một cách chặt chẽ. Mặc dù hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh quai bị - đó là một thách thức lớn cho các thầy thuốc lâm sàng - nhưng các thuốc dùng trong mục đích điều trị hỗ trợ cũng không nên coi thường.

Biến chứng:

Biến chứng khi bị quai bị điều trị không đúng
 
Viêm tuyến nước bọt:
 
Đặc điểm của sưng tuyến nước bọt là sưng 2 bên thường không đối xứng. Một số người bệnh do tuyến nước bọt sưng lên rất to làm cằm, cổ bạnh ra gây biến dạng cả bộ mặt. Da vùng tuyến nước bọt sưng, căng, bóng, không đỏ, nhưng khi sờ vào vùng da đó thấy nóng và bệnh nhân kêu đau.
 
Có 3 vị trí đau điển hình của bệnh quai bị trong dấu hiệu viêm tuyến nước bọt là góc thái dương - hàm, điểm mỏm xương chũm và góc xương hàm dưới. Nhiều bệnh nhân vì đau nên khó nhai, khó nuốt. Sốt thường kéo dài trong vòng 10 ngày, sau khi hết sốt thì hiện tượng sưng tuyến nước bọt cũng giảm dần.
 
Đặc điểm nổi bật của viêm tuyến nước bọt do virus quai bị là không bị hóa mủ (trừ khi có bội nhiễm thêm vi khuẩn khác, một đặc điểm rất cần được lưu tâm trong chẩn đoán bệnh quai bị.
 
Viêm tinh hoàn:
 
Viêm tinh hoàn do virus quai bị thường hay gặp nhất ở lứa tuổi đang dậy thì và cả lứa tuổi trưởng thành. Có khoảng từ 10 - 30% bệnh nhân kèm theo viêm tinh hoàn. Đặc điểm nổi bật của viêm tinh hoàn là thường xảy ra một bên, tỷ lệ viêm tinh hoàn 2 bên gặp ít hơn. Sau khi viêm tuyến nước bọt từ 5 - 7 ngày thì xuất hiện viêm tinh hoàn.
 
Bệnh nhân thấy xuất hiện sốt trở lại, đôi khi thân nhiệt còn tăng hơn lúc ban đầu của viêm tuyến nước bọt. Tinh hoàn sưng to, đau. Khi sờ vào tinh hoàn thấy mật độ chắc và nhìn thấy da bìu bị phù nề rõ rệt, căng, bóng, đỏ. Ngoài ra, có thể xuất hiện kèm theo viêm mào tinh hoàn, viêm thừng tinh hoàn, thậm chí xuất hiện tràn dịch màng tinh hoàn trong những trường hợp bệnh nặng.
 
Bệnh viêm tinh hoàn kéo dài từ 3 - 5 ngày thì hết sốt. Tinh hoàn cũng giảm dần độ sưng nề và giảm đau cho đến 3 - 4 tuần lễ sau đó mới hết sưng, đau hẳn.
 
Viêm tinh hoàn gây hậu quả teo tinh hoàn: Muốn biết có bị teo tinh hoàn hay không phải theo dõi khoảng vài tháng mới có thể chắc chắn. Cũng không nên lo lắng quá về bệnh của mình bởi vì tỷ lệ teo tinh hoàn do virus quai bị gây ra rất thấp, cũng chỉ khoảng 0,5% mà thôi.
 
Nếu teo tinh hoàn một bên thì mọi chức năng của tinh hoàn còn lại vẫn hoạt động bình thường, nhưng khi đã bị teo cả 2 bên tinh hoàn thì sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động sinh dục và sinh sản.
 
Viêm buồng trứng: Ngoài biến chứng viêm tinh hoàn ở nam giới thì ở nữ giới khi bị quai bị cũng có thể bị viêm buồng trứng; tuy rằng chiếm tỷ lệ thấp hơn.
 
Viêm tụy, viêm não, viêm màng não cũng có thể gặp trong bệnh quai bị nhưng không nhiều. Mặc dù những bệnh này gặp trong viêm quai bị là thấp nhưng rất nguy hiểm, có thể đe dọa đến tính mạng của người bệnh nên cần hết sức cảnh giác.

Chế độ chăm sóc:

Bài thuốc dân gian: