Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp

14/11/2016 09:47:47

Viêm nội tâm mạc bán cấp nhiễm khuẩn là tình trạng viêm nội tâm mạc có loét và sùi...

1. Đại cương
 
- Viêm nội tâm mạc bán cấp nhiễm khuẩn là tình trạng viêm nội tâm mạc có loét và sùi, thường xảy ra (nhưng không phải bắt buộc) trên một nội tâm mạc đã có tổn thương bẩm sinh hoặc mắc phải từ trước.
 
- Những đặc tính của bệnh đã được xác định nhờ các công trình nghiên của của Jaccoud, Osler và Schottmuller. Vì vậy, bệnh có khi còn được gọi là bệnh Jaccound – Osler.
 
Sau này Vaquez và Debre rồi tiếp đó là Gross và Friedberg không những đã chỉ rõ thêm những đặc tính bệnh học kinh điển của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn mà còn đối chiếu, phân biệt những thể nguyên phát cấp tính với những thể bán cấp.
 
Về mặt sinh lý bệnh, gần đây người ta có nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của những hiện tượng miễn dịch: sự có mặt của kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh là xuất phát điểm của phản ứng kháng nguyên- kháng thể, làm kết tụ tiểu cầu, đồng thời dẫn đến những hiện tượng viêm ở nội tâm mạc. Những hiện tượng miễn dịch này có thể sẽ gây ra biểu hiện ở ngoài da, ở khớp và ở thận.
 
Những công trình nghiên cứu gần đây còn tập trung nghiên cứu về mặt vi khuẩn của bệnh, về các thể thứ phát sau phẫu thuật tim, về những đóng góp của phương pháp siêu âm tim trong việc chẩn đoán bệnh và nhất là các loại kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn mạnh.
 
2. Các thể bệnh
 
* Thể cấy máu âm tính
 
Người ta chỉ coi là cấy máu âm tính sau khi đã cấy máu từ 6-9 lần mà không thấy vi khuẩn mọc.
 
Trong thể bệnh này thường có một số đặc điểm sau:
 
- Hay gặp ở những trường hợp có tổn thương van động mạch chủ.
 
- Thường kèm theo những biến chứng ở nội tạng nhất là thận và tim.
 
- Hay có thiếu máu, giảm bạch cầu, tăng gamma globulin.
 
- Diễn biến bệnh thường nặng và tỷ lệ tử vong cao mặc dù đã điều trị tích cực.
 
* Thể do liên cầu khuẩn D
 
- Gặp trong 5-10% các trường hợp.
 
- Bệnh hay xuất hiện sau những nhiễm khuẩn tiết niệu - sinh dục.
 
- Thường kháng lại liều Penicillin thường dùng do đó cần phải phối hợp Penicillin liều cao với Streptomycin.
 
- Bệnh thường có khuynh hướng tái phát.
 
* Thể do tụ cầu
 
- Đường vào của vi khuẩn thường là qua da hoặc là qua hệ tiết niệu-sinh dục.
 
- Hay gặp tổn thương ở van 3 lá.
 
- Trên lâm sàng hay có những biểu hiện của suy tim không hồi phục.
 
- Tụ cầu hay kháng lại kháng sinh nên bệnh nhân thường nặng, tỷ lệ tử vong cao.
 
* Thể thận
 
- Thường gặp trong khoảng 8 -12% trường hợp.
 
- Có những triệu chứng nổi bật như đái ra máu, urê huyết cao, phù, tăng huyết áp.
 
- Tiên lượng nói chung xấu.
 
* Thể viêm nội tâm mạc trong bệnh tim bẩm sinh
 
- Tác nhân gây bệnh thường là tụ cầu.
 
- Thường gặp nhất là bệnh còn ống động mạch, do đó cần chú ý đến tiển triển đặc biệt của nhiễm khuẩn trong bệnh này. Cụ thể là nhiễm khuẩn thường diễn biến theo 2 giai đoạn: đầu tiên là viêm nội mạc động mạch giới hạn ở ống động mạch, sau đó nhiễm khuẩn sẽ lan tỏa đến nội tâm mạc và hình thành nên những tổn thương quen thuộc.
 
* Thể viêm nội tâm mạc xảy ra sau khi phẫu thuật tim
 
- Có thể gặp trong trường hợp phẫu thuật Blalock hoặc các phẫu thuật trên tim mở.
 
- Thường bệnh biểu hiện sớm, từ khoảng 3 - 20 ngày sau phẫu thuật.
 
- Về mặt triệu chứng thường chỉ sốt và cấy máu dương tính.
 
- Nhiễm khuẩn ở đây là do tụ cầu kháng thuốc hoặc các chủng loại bất thường khác nên ít nhạy cảm với điều trị.
 

Nguyên nhân:

1. Vi khuẩn gây bệnh
 
* Trong đa số trường hợp, vi khuẩn gây bệnh là liên cầu khuẩn.
 
- Theo kinh điển, đó là loại viridans. Tuy nhiên trên thực tế, tính đặc hiệu của viridans không còn được chấp nhận nữa. Viêm nội tâm mạc bán cấp còn có thể do nhiều loại vi khuẩn khác gây nên. Nghiên cứu sâu về mặt vi khuẩn người ta không những đã phân biệt được nhiều loại liên cầu khuẩn theo mức độ gây tan huyết mà còn phân lập được các nhóm A, B, C và G nhạy cảm với Penicillin và các nhóm H, K và N đòi hỏi những liều Penicillin rất cao.
 
Riêng tràng cầu khuẩn (Streptococcus fecalis) còn được gọi là liên cầu khuẩn D, là một loại vi khuẩn thường gặp trong bệnh Osler lại ít nhạy cảm với Penicillin ở những liều thông dụng.
 
* Những loại vi khuẩn và tác nhân gây bệnh khác
 
- Tụ cầu khuẩn: đáng chú ý là hay gặp trong những trường hợp nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu sau nạo phá thai, các tổn thương thường hay gặp ở van 3 lá.
 
- Não mô cầu, phế cầu, lậu cầu.
 
- Trực khuẩn Friedlander, Salmonella, Corynebacterium Vibrifoctus.
 
- Các loại nấm Actynomyces, Candida Albicans: thường hay gây bệnh trên những cơ thể suy giảm miễn dịch, đã từng được điều trị ở những liều kháng sinh quá dài. Tiên lượng của những loại này rất kém.
 
* Đường vào của vi khuẩn
 
- Nhiễm khuẩn răng miệng từ lâu đã được coi là một nguyên nhân thường gặp của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Nguy cơ nhiễm khuẩn sau khi nhổ răng càng nhiều nếu tình trạng lợi bị viêm càng nhiều, nếu số răng bị nhổ càng cao và nếu thời gian làm thủ thuật càng dài.
 
- Những nhiểm khuẩn ngoài da, nhiểm khuẩn do nạo phá thai, một số thủ thuật không được vô khuẩn cẩn thận (đặt catheter, truyền máu, chạy thận nhân tạo…) sẽ là đường vào thuận lợi của các loại vi khuẩn, nhất là tụ cầu.
 
- Ngoài ra, nhiễm khuẩn tiêu hóa, nhiễm khuẩn tiết niệu do phẫu thuật ở hệ tiết niệu, sỏi bàng quang… chiếm một tỷ lệ quan trọng trong nguyên nhân gây bệnh do liên cầu khuẩn nhóm D.
 
- Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp người ta không tìm thấy rõ đường vào của vi khuẩn.
 
2.  Vai trò của bệnh tim có trước
 
Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn nguyên phát rất ít gặp. Nói chung thường xảy ra trên một bệnh nhân đã có tổn thương tim từ trước.
 
Tiền sử có bệnh thấp rất hay gặp, từ 50-80% các trường hợp. Thông thường thì tiến triển thấp đã ổn định khi xuất hiện viêm nội tâm mạc bán cấp nhiễm khuẩn.
 
Viêm nội tâm mạc bán cấp nhiễm khuẩn còn là biến chứng của một số bệnh tim bẩm sinh: 7,7% các trường hợp theo Maud Abbott và khoảng 10% theo Riedberg.
 
Thường gặp hơn cả là các bệnh: còn ống động mạch, thông liên thất, van động mạch chủ hai lá, hẹp động mạch phổi, tứ chứng Fallot, hẹp dưới van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ.
 
Ngược lại, thông liên nhĩ rất ít khi có biến chứng viêm nội tâm mạc bán cấp nhiễm khuẩn.
 
3. Giải phẫu bệnh
 
a/ Tổn thương ở tim
 
* Tổn thương ở nội tâm mạc
 
b/ Tổn thương ở nơi khác
 
Những tổn thương cơ tim gần như bao giờ cũng có: viêm cơ tim kẽ dưới nội tâm mạc và thượng tâm mạc, thoái hóa các thớ cơ, viêm các mao quản, tiểu động mạch tăng sinh ở mạch vành đến mức có thể gây tắc.
 
Tổn thương ngoại tâm mạc: có những đám thâm nhiễm do viêm quanh mạch máu rải rác.
 
c/ Tổn thương ở ngoài tim
 
- Các động mạch: có thể bị tắc hoặc giãn do viêm nội mô lan tỏa.
 
- Các mao mạch: cũng do viêm nội mô đã gây nên xuất huyết dưới da, hạt Osler và hình thành các cục nghẽn mạch.
 
- Gan và lách thường to lên: hay gặp các ổ nhồi máu mới hoặc cũ cùng với tổn thương ở hệ liên võng-nội mô.
 
- Thận: thường có viêm cầu thận bán cấp kèm theo sung huyết mạch máu, xâm nhập nhiều hồng cầu bạch cầu vào trong tổ chức kẽ.

Các yếu tố, nguy cơ:

Các yếu tố nguy cơ gia tăng Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn bán cấp
 
Những bệnh nhân có nguy cơ cao:
 
- Van nhân tạo (van sinh học, van cơ học, homograffes)
 
- Tiền sử viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (ngay cả khi không có bệnh tim)
 
- Bệnh tim bẩm sinh tím: chưa phẫu thuật hoặc đã được phẫu thuật tạm thời
 
- Shunt chủ phổi nhân tạo
 
Những bệnh có nguy cơ:
 
- Bệnh van tim: hở van động mạch chủ, hở van 2 lá, hẹp van động mạch chủ, hẹp van 2 lá đơn thuần hiếm khi gặp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn
 
- Sa van 2 lá có hở van và dày van
 
- Van động mạch chủ 2 lá
 
- Bệnh tim bẩm sinh không tím chưa phẫu thuật (trừ thông liên nhĩ)
 
- Bệnh cơ tim tắc nghẽn
 
Những bệnh có nguy cơ yếu:
 
- Thông liên nhĩ đơn độc
 
- Cầu nối động mạch vành
 
- Sa van 2 lá không hở van (trên siêu âm Doppler)
 
- Tiếng thổi cơ năng ở tim
 
- Tiền sử thấp khớp cấp không có biến chứng tim
 
- Tạo nhịp tạm thời, cấy máy tạo nhịp (còn đang được thảo luận).

Triệu chứng, biểu hiện:

1. Lâm sàng
 
a/ Giai đoạn khởi phát
 
+ Xét nghiệm nước tiểu tìm hồng cầu
 
+ Cấy máu nhiều lần
 
Cần chú ý là trước khi cấy máu không nên cho kháng sinh liều nhỏ, vì nó dễ làm sai lạc chẩn đoán.
 
- Trong một số ít trường hợp, bệnh bắt đầu bằng một tai biến mạch máu đột ngột: nhũn não hoặc nhồi máu các phủ tạng khác.
 
b/ Giai đoạn toàn phát
 
Sau một vài tuần biểu hiện của bệnh không có gì đặc biệt hoặc kín đáo trong giai đoạn khởi phát thì các triệu chứng bắt đầu rõ dần ở giai đoạn toàn phát.
 
Sốt:
 
Biểu hiện ở tim:
 
Lách to
 
+ Lách to là một triệu chứng có nhiều giá trị gợi ý cho chẩn đoán trên cơ sở một bệnh nhân tim có sốt.
 
+ Thường lách không to nhiều mà chỉ vượt quá bờ sườn khoảng 2 - 4cm, có khi chỉ mấp mé bờ sườn, nhưng chạm vào bệnh nhân thấy đau.
 
- Các tai biến tắc nghẽn mạch
 
Vì hay xảy ra nên có thể được xếp vào triệu chứng học của bệnh.
 
+ Nhồi máu nội tạng có thể xảy ra ở gan, ruột, lách, thận và nhất là ở não. Tổn thương ở não có thể gây ra liệt nửa người, nói ngọng hoặc mất tiếng nói.
 
+ Có thể mù đột ngột do tắc động mạch trung tâm võng mạc.
 
+ Hiếm gặp các trường hợp tắc động mạch vành gây nhồi máu cơ tim hoặc tắc động mạch ở các chi.
 
2. Cận lâm sàng
 
a/ Xét nghiệm máu
 
b/ Xét nghiệm nước tiểu:
 
Ngoài protein niệu, người ta thấy trong khoảng 70-80% các trường hợp có đái máu vi thể, được xác định thông qua xét nghiệm cặn Addis. Chứng đái hồng cầu này không phải là liên tục, nên cần phải làm xét nghiệm nhiều lần.
 
c/ Siêu âm tim
 
- Hiện nay siêu âm tim ngày càng được coi là một xét nghiệm rất hữu ích trong việc chẩn đoán xác định cũng như theo dõi diễn biến các tổn thương ở tim trong bệnh viêm nội tâm mạc bán cấp nhiễm khuẩn.
 
Với kỹ thuật siêu âm kiểu TM và siêu âm 2D qua thành ngực và qua thực quản người ta có thể xác định có mặt của các tổn thương sùi trên bề mặt các van tim. Đôi khi, siêu âm tim còn phát hiện được hiện tượng đứt các dây chằng, cột cơ hoặc thủng các vách tim, là những biến chứng có xảy ra trong nội tâm mạc bán cấp nhiễm khuẩn.
 
Nếu nhìn thấy rõ các tổn thương sùi thì chúng ta có thể chẩn đoán xác định bệnh (dù là có cấy máu tâm tính).
 
Những nếu không thấy rõ các tổn thương sùi thì chúng ta cũng không được loại trừ chẩn đoán, vì thế có thể chùm tia siêu âm chưa quét được đúng vùng tổn thương hoặc là tổn thương sùi còn quá nhỏ nên chưa phát hiện được trên siêu âm.

Chẩn đoán bệnh:

1. Chẩn đoán xác định
 
Có thể chẩn đoán xác định bệnh khi thấy:
 
- Sốt dai dẳng trên 1 bệnh nhân có bệnh tim.
 
- Lách to, móng tay khum, ngón tay dùi trống.
 
- Cấy máu có vi khuẩn, hoặc là siêu âm có hình ảnh sùi ở van tim.
 
Tuy nhiên, trên thực tế để có thể chẩn đoán và điều trị sớm ta nên nghĩ đến viêm nội tâm mạc bán cấp nhiễm khuẩn trước một bệnh nhân tim có sốt dai dẳng trên 1 tuần mà không có lý do và cho cấy máu ngay.
 
2 Chẩn đoán phân biệt
 
* Trước một bệnh nhân sốt:
 
- Cần loại bỏ các nguyên nhân cảm cúm, thương hàn, bệnh Hodgkin, lao, các bệnh nung mủ sâu.
 
- Loại bỏ những tiếng thổi tâm thu cơ năng trên bệnh nhân thiếu máu.
 
* Trước một bệnh nhân tim có sốt
 
- Phải cấy máu nhiều lần liên tiếp:
 
+ Nếu cấy máu dương tính, chẩn đoán Osler gần như chắc chắn.
 
+ Nếu cấy máu âm tính, được biểu hiện bằng những triệu chứng rầm rộ ở khắp và nhất là những thay đổi ở tim (rối loạn nhịp tim có thể có tiếng ngựa phi hoặc tiếng cọ màng tim).
 
- Tắc nghẽn mạch ở chi dưới.
 
-  Một số bệnh ít gặp hơn:
 
+ Viêm nội tâm mạc Libman-Sachs (phải tìm tế bào Hargraves).
 
+ Viêm nút quanh động mạch (cần làm sinh thiết cơ).

Phòng ngừa:

Những bệnh có nguy cơ cao:
 
- Van nhân tạo (van sinh học, van cơ học, homograffes).
 
- Tiền sử viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (ngay cả khi không có bệnh tim).
 
- Bệnh tim bẩm sinh tím: chưa phẫu thuật hoặc đã được phẫu thuật tạm thời.
 
- Shunt chủ phổi nhân tạo.
 
Những bệnh có nguy cơ:
 
- Bệnh van tim: hở van động mạch chủ, hở van 2 lá, hẹp van động mạch chủ, hẹp van 2 lá đơn thuần hiếm khi gặp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
 
- Sa van 2 lá có hở van và dày van.
 
- Van động mạch chủ 2 lá.
 
- Bệnh tim bẩm sinh không tím chưa phẫu thuật (trừ thông liên nhĩ).
 
- Bệnh cơ tim tắc nghẽn.
 
Những bệnh có nguy cơ yếu:
 
- Thông liên nhĩ đơn độc
 
- Cầu nối động mạch vành
 
- Sa van 2 lá không hở van (trên siêu âm Doppler)
 
- Tiếng thổi cơ năng ở tim
 
- Tiền sử thấp khớp cấp không có biến chứng tim
 
- Tạo nhịp tạm thời, cấy máy tạo nhịp (còn đang được thảo luận).
 
Tăng vệ sinh
 
- Răng miệng, tai mũi họng, tiết niệu sinh dục.
 
- Khám bệnh 2 lần/năm.
 
Phòng nhiễm trùng huyết
 
Trong quá trình điều trị có thể dẫn đến nhiều biến chứng nhiễm trùng huyết nên trong quá trình điều trị cần có những biện phấp khác nhau nhằm để ngăn ngừa quá trình nhiễm trùng huyết .

Điều trị:

1. Điều trị nội khoa
 
a/ Nguyên tắc điều trị kháng sinh:
 
Mục đích của điều trị kháng sinh là diệt khuẩn ở tổn thương sùi.
 
-  Dùng kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn, liều cao, phối hợp 2 kháng sinh
 
+ Kháng sinh kìm khuẩn không có đủ hiệu quả vì kháng thể và thực bào khó thấm vào tổ chức sùi.
 
+ Phải dùng liều cao kháng sinh vì khánh sinh khó thấm vào tổ chức sùi.
 
+ Độ tập trung của vi khuẩn cao trong tổ chức sùi (109-1010/g sùi) và hoạt động chuyển hóa của chúng rất chậm nên hoạt tính của loại kháng sinh tác động vào vỏ vi khuẩn trong giai đoạn tăng vi khuẩn bị giảm.
 
b/ Điều trị kháng sinh đặc hiệu
 
- Viêm nội tâm mạc van nhân tạo do Enterococcus và Streptococcus:
 
+ Thời gian điều trị là 30-40 ngày
 
+ Trong trường hợp phải thay van trong bệnh cảnh tiến triển của viêm nội tâm mạc do Enterococcus/Streptococcus, thời gian điều trị kháng sinh sau mổ là 40 ngày nếu cấy tổ chức van tim dương tính, nếu cấy tổ chức van tim âm tính thì thời gian điều trị kháng sinh sau mổ là 15 ngày.
 
- Viêm nội tâm mạc van nhân tạo do tụ cầu
 
+ Liều Vancomycin ≤ 2g/ngày trừ trường hợp định lượng được nồng độ Vancomycin trong máu
 
+ Có thể dùng 1 Aminoside khác ngoài Gentamycin sau khi đã kiểm tra hoạt tính invitro của loại Aminoside đó
 
2. Các điều trị khác
 
+ Điều trị răng: có kháng sinh bao vây trước
 
+ Dẫn lưu viêm xoang
 
+ Cắt bỏ ápxe da
 
- Điều trị biến chứng
 
+ Thuốc chống đông: tăng nguy cơ chảy máu của phình mạch hình nấm và tạo điều kiện thuận lợi làm nhồi máu não do chuyển tắc mạch não thành xuất huyết não. Nhưng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn không phải là chống chỉ định của thuốc chống đông, vẫn có thể dùng Heparin trong trường hợp van cơ học, viêm tĩnh mạch chi dưới.
 
+ Điều trị suy tim trái: giãn mạch, lợi tiểu, xác định chỉ định ngoại khoa
 
+ Rung nhĩ mới xuất hiện
 
. Digitalis
 
. Heparin truyền tĩnh mạch hoặc tiêm tĩnh mạch cách 2 giờ với TCA 1,5-2 lần chứng
 
+ Viêm nội tâm mạc van cơ học: ngừng kháng vitamin K, dùng heparine như trên
 
+ Tai biến mạch máu não
 
3. Điều trị ngoại khoa
 
 Thay van
 
- Chỉ định mổ phải được đặt ra trước khi xuất hiện suy tim trơ với điều trị nội khoa vì nguy cơ phẫu thuật khi đó sẽ đỡ hơn.
 
- Các chỉ định chính là:
 
+ Suy tim đặc biệt là viêm nội tâm mạc van động chủ hoặc viêm nội tâm mạc van nhân tạo
 
+ Sùi gây tắc (sùi lớn kích thước 10mm đường kính + có tắc mạch)
 
+ Hở van nặng (hoặc nặng lên nhanh chóng) có suy thất trái hoặc không
 
+ Hội chứng nhiễm trùng kéo dài mặc dù điều trị kháng sinh thích hợp (8-10 ngày)
 
+ Tai biến tắc mạch tái diễn ở nhiều vùng
 
+ Áp xe vách hoặc áp xe vòng van động mạch chủ rối loạn dẫn truyền
 
+ Tái nhiễm viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn 6 tháng sau điều trị ban đầu
 
+ Viêm nội tâm mạc có tổn thương xoang Valssava hoặc vùng nhĩ thất
 
+ Viêm nội tâm mạc do nấm
 
+ Viêm nội tâm mạc van nhân tạo:
 
. Sớm: chỉ định mổ 100%
 
. Muộn: chỉ định mổ 60-80%.
 
* Tai biến tắc mạch ngoại biên.
 
- Không dùng chống đông.
 
- Sten có bóng Fogarthy trong trường hợp tắc mạch chi dưới.
 
- Doppler mạch về sau (6 tháng - 1 năm).

Biến chứng:

Tiên lượng tuỳ thuộc vào chủng vi khuẩn gây bệnh.
 
Ngay cả trong trường hợp điều trị khỏi, tổn thương van tim có thể dẫn đến hậu quả suy tim sau này.
 
Một số trường hợp cục máu đông hình thành, trôi theo dòng máu gây tắc mạch ở não, phổi.
 
Biến chứng chủ yếu của bệnh này có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng

Chế độ chăm sóc:

Chăm sóc cơ bản:
 
- Để bệnh nhân nghỉ ngơi thích hợp.
 
- Ăn đầy đủ năng lượng, hạn chế muối và nước uống theo chỉ định.
 
- Vệ sinh hàng ngày da và tai mũi họng, tránh bị nhiễm khuẩn thêm.
 
- Bệnh nhân phải được nghỉ ngơi, không được gắng sức.
Thực hiện các y lệnh:
 
- Cho bệnh nhân uống thuốc và tiêm thuốc theo chỉ định.
 
- Làm các xét nghiệm theo yêu cầu.
 
Theo dõi:
 
- Mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở.
 
- Theo dõi số lượng nước tiểu và màu sắc.
 
- Theo dõi sự thay đổi tiếng tim hàng ngày.
 
- Theo dõi tình trạng tắc mạch ngoại vi.
 
- Theo dõi thị lực bệnh nhân.
 
- Theo dõi một số xét nghiệm như: protein niệu, hồng cầu niệu, điện tim, siêu âm tim, ure và creatinin máu, nếu có bất thường phải báo cho bác sĩ ngay.
 
Giáo dục sức khoẻ:
 
Bệnh nhân và gia đình cần phải biết về nguyên nhân, cách phát hiện bệnh và thái độ xử trí cũng như cách chăm sóc bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
 
Biết được tiến triển và các biến chứng của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, cũng như cách phòng bệnh viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
 
Thực hiện kế hoạch chăm sóc
 
Thực hiện chăm sóc cơ bản:
 
- Đặt bệnh nhân nghỉ ngơi, nằm đầu ở tư thế đầu cao.
 
- Nghỉ ngơi tại giường, hạn chế vận động. Các đồ dùng các nhân của bệnh nhân phải để một nơi thật thuận tiện để bệnh nhân dễ sử dụng, hạn chế vận động nhiều. Việc nghỉ ngơi tuỳ thuộc vào tình trạng bệnh nhân, nhất là tình trạng tim mạch.
 
- Luôn giữ ấm cơ thể bệnh nhân, không dùng nước lạnh tắm hay rửa tay chân cho người bệnh.
 
Chế độ ăn và nước uống:
 
- Nước uống: cần căn cứ vào tình trạng suy tim, tình trạng phù hay tình trạng khó thở mà lượng nước đưa vào cho phù hợp từng bệnh nhân. Nếu không có tình trạng suy tim thì lượng nước đưa và kể cả ăn và uống khoảng 500 ml/ngày, cộng với lượng nước tiểu trong ngày.
 
- Lượng đạm: cần tăng cường dinh dưỡng cho bệnh nhân, nói chung không có hạn chế protein trong những trường hợp này; tuy nhiên, khi có tình trạng tăng urê máu thì lượng đạm cần hạn chế.
 
- Vệ sinh hàng ngày cho bệnh nhân: hàng ngày vệ sinh răng miệng và da để tránh các ổ nhiễm khuẩn, phát hiện sớm các ổ nhiễm trùng để có hướng điều trị cho bệnh nhân. áo, quần, vải trải giường và các vật dụng khác phải luôn được sạch sẽ. Phải giúp bệnh nhân thông khí phổi tốt, tránh nằm lâu gây bội nhiễm phổi.

Bài thuốc dân gian: