Viêm tá tràng

14/11/2016 09:47:39
Viêm tá tràng là hiện tượng phổ biến, xảy ra viêm ở thành ruột (tại phần đầu của ruột non). 
Viêm tá tràng là hiện tượng phổ biến, xảy ra viêm ở thành ruột (tại phần đầu của ruột non).
 
Viêm tá tràng thường được chẩn đoán bằng phương pháp nội soi, máy chụp được đưa vào tận sâu trong dạ dày và phần đầu của ruột non. Việc này có thể gây đau hoặc chảy máu tại ruột.
 
Bệnh cũng giống như bệnh loét dạ dày-tá tràng nhưng ít nghiêm trọng hơn.
 

Nguyên nhân:

Có nhiều nguyên nhân gây viêm tá tràng:
 
- Do chế độ ăn:
 
+ Ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng
 
+ Ăn nhiều chất béo
 
+ Chế độ ăn thiếu dinh dưỡng kéo dài
 
+ Nghiện rượu, nghiện thuốc lá
 
+ Ăn vội vàng, nhai không kỹ
 
+ Rối loạn giờ giấc ăn uống thường xuyên: ăn không đúng bữa, không đúng giờ, ăn quá khuya, lúc ăn thì quá no, lúc thì nhịn đói quá lâu.
 
- Do thuốc, các hóa chất: thường gặp là acid, bụi kim loại, các loại thuốc giảm đau, kháng viêm, corticoid…
 
- Do nhiễm trùng: đặc biệt trong thời đại ngày nay, tình hình nhiễm HP rất được các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa quan tâm. HP là một loại vi khuẩn gram âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày-tá tràng.
 
- Do nguyên nhân thần kinh: viêm loét dạ dày thường hay gặp ở những người hay lo lắng, sợ hãi, làm việc quá căng thẳng, gặp ở người sống ở thành thị nhiều hơn ở nông thôn, gặp ở người làm việc trí óc nhiều hơn ở người làm việc chân tay.
 
- Do nguyên nhân nội tiết: đái tháo đường, hạ đường huyết, hội chứng cushing, xơ gan…

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Các dấu hiệu đặc trưng của viêm tá tràng:
 
- Đau bụng trên hoặc vùng thượng vị (vùng bụng trên, ngay dưới ức), ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn.
 
- Đói đau, no quá cũng đau. Đang đói, đau, ăn nhẹ thì hết đau. Đau tăng khi ăn các thức ăn như: chuối tiêu, dứa, dưa chua,…
 
- Xuất huyết (nếu có): Phân đen, mịn như cà phê hoặc nôn ra máu đỏ, da xanh tái, tim đập nhanh, vã mồ hôi, giảm huyết áp.
 
Viêm loét hành tá tràng:
 
- Đau vùng thượng vị: Đau dữ dội, đau rát, đau như bị cào, gặm; hoặc đau âm ỉ, bụng đầy hoặc cảm giác cồn cào như đói.
 
- Cơn đau giảm khi ăn thức ăn. Cơn đau lại đến sau khi ăn 1,5-3 giờ. Cơn đau thường làm bệnh nhân tỉnh dậy ban đêm. Có thể kéo dài vài ngày tới vài tháng.
 
Đau tăng khi ăn thức ăn và nôn là các triệu chứng của loét môn vị.

Chẩn đoán bệnh:

- Bệnh sử: Mọi người có thể có cảm giác đầy bụng sau khi ăn, ợ hơi, cảm giác mất ngon, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, khó chịu hay đau bụng. Những triệu chứng này có thể sẽ xuất hiện thường xuyên hơn trong những lúc tâm lý căng thẳng.
 
- Kiểm tra sơ bộ: Các dấu hiệu như chướng bụng và đầy hơi có thể dễ thấy khi kiểm tra sơ bộ. Các dấu hiệu về bệnh tiêu hóa thường đi cùng với viêm tá tràng có thể bao gồm cả việc giảm cân, bụng chướng to hơn, phân có máu.
 
- Xét nghiệm: Để có thể thấy rõ được tá tràng (dựa trên hàng loạt các xét nghiệm về tiêu hóa), bệnh nhân sẽ uống một loại thuốc cản quang (bari) sau đó chụp X-quang.
 
Để có thể quan sát được phần bên trong (niêm mạc) của tá tràng, người ta phải dùng nội soi qua thực quản.

Phòng ngừa:

1. Nguyên tắc chung:
 
Bệnh nhân cần tránh ăn các thức ăn dễ kích thích như:
 
- Rượu; các chất gia vị như ớt, hạt tiêu; các chất có nhiều chất chua: hoa quả, dấm…
 
- Không hút thuốc lá, thuốc lào.
 
2. Ăn chế độ riêng:
 
Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn bệnh và các biến chứng kèm theo.
 
* Đối với bệnh nhân đang bị xuất huyết tiêu hoá, đang đợt đau:
 
- Bệnh nhân cần nằm tại chỗ, tránh đi lại và tránh thay đổi tư thế đột ngột.
 
- Ăn các thức ăn lỏng (sữa, nước cháo) chia làm nhiều bữa cho đến khi hết đau, hết các triệu chứng của xuất huyết tiêu hoá (đi ngoài phân vàng), sau đó ăn đặc (cháo, cơm nát) rồi ăn dần dần trở lại bình thường.
 
- Ăn chậm, nhai kỹ.
 
- Buổi tối nên ăn một miếng bánh ngọt hoặc uống một cốc sữa nhỏ, không nên để dạ dày rỗng, đói.
 
- Không cần thiết phải ăn cơm nếp như trước đây.
 
Bệnh nhân viêm loét tá tràng cần chú ý: Có chế độ làm việc hợp lý, tránh làm việc gắng sức, tránh căng thẳng thần kinh, tránh stress.

Điều trị:

Các loại thuốc điều trị viêm tá tràng.
 
Các thuốc kháng acid:
 
Là các hợp chất vô cơ có khả năng trung hoà acid HCl, làm giảm độ chua của dịch vị. Trước đây có dùng natri carbonat (NaHCO3, còn gọi thuốc tiêu mặn), hoặc calci carbonat (CaCO3), ngày nay ít dùng. Hiện nay thường dùng nhôm hydroxyd Al(OH)3, magiê hydroxyd Mg(OH)2 hoặc các muối của magiê, nhôm ở dạng phosphat, carbonat, trisilicat...
 
Các thuốc kháng histamin ở thụ thể H2:
 
Là thuốc đối kháng tương tranh với histamin tại thụ thể H2 nằm trên màng tế bào đảm nhận việc tiết ra acid ở dạ dày, histamin không gắn được vào thụ thể làm cho dạ dày không tiết ra acid. Gồm có: cimetidin, ranitidin, famotidin...
 
Các thuốc ức chế “bơm proton”:
 
Là thuốc có tác dụng ức chế một chất có tên là “bơm proton” (thực chất là một enzyme có tên H+K+ATPase) nằm ở màng tế bào đảm nhận việc tiết acid ở dạ dày. “Bơm proton” không hoạt động, acid không thể thoát ra khỏi tế bào để đổ vào lòng dạ dày tạo độ chua của dịch vị.
 
Đang sử dụng: omeprazol, lansoprazol, pantoprazol.
 
Thuốc mới: rabeprazol, esomeprazol.
 
Thuốc là dẫn chất prostaglandin:
 
Điển hình của thuốc nhóm này là misoprostol. Không dùng điều trị mà được chỉ định phòng ngừa viêm loét dạ dày - tá tràng do phải sử dụng dài hạn thuốc chống viêm không steroid (aspirin, ibuprofen, diclofenac...).
 
Thuốc là sucralfat:
 
Tên thuốc là sucrose aluminium sulfate, để chỉ đây là hợp chất kết hợp đường (saccharose hay sucrose), nhôm hydroxyd và các gốc sulfat.
 
Khi uống vào dạ dày, sucralfat biến thành chất nhầy bao phủ niêm mạc và cho tác dụng bảo vệ.
 
Thuốc là hợp chất bismuth:
 
Trước đây khá lâu, nhiều hợp chất bismuth được sử dụng nhưng rồi bị cấm do tích luỹ gây độc cho não.
 
Hiện nay có 2 hợp chất bismuth được dùng (tuy nhiên, một số nước châu Âu vẫn không dùng): bismuth subsalicylat, tripotassium dicitrato bismuthate (viết tắt: TDB, CBS).
 
Bismuth có tác dụng kháng khuẩn Helicobacter pylori.
 
Ngoài các thuốc kể trên, trong điều trị viêm loét dạ dày-tá tràng, người bệnh còn có thể được chỉ định dùng thuốc hỗ trợ để giúp việc điều trị tốt hơn:
 
- Thuốc an thần chống stress: diazepam, sulpirid.
 
- Thuốc chống co thắt nhằm giảm đau: atropin, Buscopan, No-spa...
 
Hiện nay có dùng phác đồ phối hợp kháng sinh để trị viêm loét dạ dày – trá tràng?
 
Do phát hiện vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) trong đa số trường hợp bị viêm loét dạ dày-tá tràng (70-90%) nên trong điều trị có đặt vấn đề tiệt trừ vi khuẩn này. Có một số ghi nhận như sau:
 
- Chỉ có một số kháng sinh có hiệu quả (tetracyclin, amoxicillin, metronidazol, tinidazol, furazolidon, clarithromycin).
 
- Không được dùng một kháng sinh đơn độc mà phải kết hợp hai kháng sinh trở lên.
 
- Các phác đồ điều trị bằng kháng sinh hiện nay vẫn còn tiếp tục được nghiên cứu, không có phác đồ nào đạt hiệu quả 100%.
 
Trong điều trị tiệt trừ HP, cần lưu ý:
 
- Phải làm xét nghiệm chẩn đoán xem có hiện diện HP hay không.
 
- Phải dùng thuốc đúng phác đồ về thuốc kết hợp, liều lượng, thời gian. Để tiệt trừ HP, thời gian dùng thuốc thường là 7-14 ngày.
 
- Phác đồ hiện nay thường kết hợp: 3 thuốc (trị liệu 3 thuốc), 4 thuốc (trị liệu 4 thuốc).
 
- Sau khi điều trị, cần làm xét nghiệm xem tiệt trừ HP hay chưa.
 
- Do sử dụng kháng sinh nên có thể bị tác dụng phụ (30% bị tác dụng phụ và 20% phải ngưng điều trị).

Biến chứng:

Bệnh viêm tá tràng có thể có những biến chứng phức tạp liên quan đến tiêu hóa. Viêm tá tràng cũng có thể gây ra các tổn thương (có thể là loét) đến cấu trúc của dạ dày hay tá tràng, dẫn đến chảy máu gây mất máu. Nếu tình trạng này kéo dài rất có thể dẫn đến hiện tượng giảm sắt trong máu.
 
Nếu các vết loét không được chữa trị có thể sẽ làm thủng vách ngăn dạ dày, làm cho máu và các thức ăn đã biến đổi, axit clohydric chuyển vào khoang bụng, dẫn đến chứng viêm màng bụng. Khi ấy người bệnh có thể bị đau trầm trọng và phải được cấp cứu và chăm sóc kịp thời.
 
Viêm hay loét dạ dày cũng có thể để lại vết sẹo trên lối thoát giữa dạ dày và tá tràng, làm thu hẹp phạm vi hoạt động của van này, làm cho đường dẫn thức ăn từ dạ dày vào tá tràng có thể bị nghẽn lại.

Chế độ chăm sóc:

Bài thuốc dân gian: