Viêm ruột thừa

14/11/2016 09:47:38
Viêm ruột thừa là tình trạng viêm của ruột thừa.
Viêm ruột thừa là tình trạng viêm của ruột thừa.
 
Ruột thừa là gì?
 
Ruột thừa (ruột dư) là một đoạn ruột hẹp, kín, tận cùng, dài khoảng vài centimet và bám dính vào manh tràng (đoạn đầu tiên của ruột già). Lớp lót bên trong lòng ruột thừa tiết ra ít chất nhầy và chảy vào manh tràng.
 
Thành của ruột thừa chứa mô bạch huyết, là một phần của hệ miễn dịch sản xuất kháng thể. Giống như những đoạn còn lại của đại tràng (ruột già) thì thành của ruột thừa cũng có chứa lớp cơ nhưng lớp cơ này phát triển kém.
 
Viêm ruột thừa là gì?
 
Viêm ruột thừa là tình trạng viêm của ruột thừa. Người ta nghĩ rằng viêm ruột thừa là do lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng bị tắc nghẽn. Hiện tượng tắc nghẽn này là do tích tụ nhiều chất dịch nhầy trong lòng ruột thừa hoặc do phân từ manh tràng đi vào ruột thừa. Chất nhầy hay phân trở nên cứng, giống như đá và làm tắc nghẽn lỗ thông.
 
Hiện tượng phân cứng như đá được gọi là 'sỏi phân' (phân có kích thước bằng hạt đậu, cứng và bị canxi hóa gây tắc nghẽn lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng). Có thể có hiện tượng mô bạch huyết của ruột thừa bị phù và làm tắc nghẽn ruột thừa.
 
Sau khi hiện tượng tắc nghẽn xãy ra, các vi khuẩn bình thường thường trú trong lòng ruột thừa bắt đầu xâm lấn vào thành ruột thừa. Cơ thể đáp ứng với hiện tượng xâm lấn này bằng cách tấn công các vi khuẩn. Hiện tượng tấn công các vi khuẩn đó được gọi là viêm.
 
Nếu hiện tượng viêm và nhiễm trùng lan rộng đến thành ruột thừa thì ruột thừa sẽ bị vỡ ra. Sau khi ruột thừa vỡ, nhiễm trùng sẽ lan rộng vào trong ổ bụng. Tuy nhiên, hiện tượng nhiễm trùng này thường giới hạn thành một vùng nhỏ xung quanh ruột thừa được gọi là áp xe quanh ruột thừa.
 
Đôi khi, viêm ruột thừa có thể tự khỏi mà không cần phẫu thuật nếu hiện tượng viêm và nhiễm trùng không lan rộng vào ổ bụng. Viêm, đau và các triệu chứng sẽ biến mất. Trường hợp này có thể gặp ở những người già và được sử dụng kháng sinh.
 
Những bệnh nhân này có thể một thời gian lâu sau khi bị viêm ruột thừa sẽ đến gặp bác sĩ vì một khối ở vùng bụng dưới phải do kết quả của hiện tượng tự 'chữa lành' của cơ thể.
 

Nguyên nhân:

Nguyên nhân của viêm ruột thừa thường là nhiễm trùng sau nơi tắc nghẽn của ruột thừa. Ðiều này có thể do một mảnh phân cứng (sỏi phân) mắc kẹt ởruột thừa. Thêm vào đó, mô bạch huyết ởruột thừa trở nên bị viêm và gây tắc ruột thừa. Ở nhiều trường hợp, nguyên nhân viêm cụ thể vẫn không được biết.
 
- Khác với các tổn thương do chấn thương, viêm ruột thừa là nguyên nhân đau bụng thường gặp nhất cần phải phẫu thuật cấp cứu. Phần lớn các trường hợp viêm ruột thừa xuất hiện ở lứa tuổi từ 11 đến 20, mặc dù nó có thể xuất hiện ở tất cả các nhóm tuổi.

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Triệu chứng của viêm ruột thừa lúc đầu có thể khó phân biệt với nhiễm siêu vi đường ruột mà thường được gọi là viêm dạ dày ruột.
 
 - Khi nhiễm trùng nặng hơn, đau trở nên nổi bật hơn ở phần dưới phải của bụng. Bệnh nhân thường có buồn nôn, nôn và biếng ăn. Ðau thường liên tục và ngày càng nặng. Bệnh nhân có thể tiêu chảy, sốt và lạnh run.
 
 - Những triệu chứng này tiến triển vài giờ đến vài ngày. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có thể không kể lại thứ tự các triệu chứng được nêu ra ở trên. Vì thế, chẩn đoán viêm ruột thừa chính xác thường có thể gặp khó khăn. Ðiều này có thể đúng ở trẻ em rất nhỏ và ở bệnh nhân già.
 
 - Nhiều bệnh cảnh khác có thể giống viêm ruột thừa như viêm dạ dày ruột, sỏi thận, nhiễm trùng tiết nhiệu, và một bệnh viêm ruột được gọi là bệnh Crohn. Ở phụ nữ, các bệnh cảnh như u nang buồng trứng và nhiễm trùng tiểu khung có thể giống với viêm ruột thừa.
 
- Nếu nhiễm trùng của ruột thừa không được điều trị, ruột thừa sẽ vỡ hoặc thủng. Ðiều này đưa đến các biến chứng như viêm toàn bộ ổ bụng (viêm phúc mạc), hình thành áp xe và tắc ruột.

Chẩn đoán bệnh:

Để chẩn đoan viêm ruột thừa, người ta có thể tiến hành theo các phương pháp sau:
 
Chụp cắt lớp điện toán
 
Chụp cắt lớp điện toán có thể thấy các dấu hiệu của viêm ruột thừa, nhưng thường là bình thường ở giai đoạn sớm. Nó hữu ích nhất trong việc chẩn đoán các biến chứng của viêm ruột thừa như là ổ áp xe.
 
Chụp đại tràng cản quang
 
Chụp đại tràng cản quang là một xét nghiệm với bari (chất cản quang) được bơm vào đại tràng qua lỗ hậu môn. Xét nghiệm này thỉnh thoảng cho thấy các ảnh hưởng của viêm ruột thừa lên các cấu trúc xung quanh và cũng có thể loại trừ những rối loạn khác của ruột giống với viêm ruột thừa.
 
Nội soi ổ bụng
 
Nội soi ổ bụng là một thủ thuật với một máy quay phim nhỏ qua sợi quang học được đưa vào trong ổ bụng và ruột thừa có thể được nhìn thấy trực tiếp. Thủ thuật này thường cần phải gây mê, tuy nhiên, nếu ruột thừa bị viêm, nó có thể được cắt qua nội soi trong cùng cuộc gây mê.
 
Vì không có một xét nghiệm nào chẩn đoán viêm ruột thừa một cách chắc chắn, một phẫu thuật viên thường sẽ đánh giá bệnh nhân và đề nghị tiến trình hành động.
 
Tiến trình này có thể bao gồm giai đoạn theo dõi, các xét nghiệm như được đề cập ở trên hoặc phẫu thuật.
 
X-quang bụng
 
X quang bụng có thể phát hiện sỏi phân (mảnh phân cứng hình hạt đậu) đã gây ra viêm ruột thừa. Ðiều này đặc biệt đúng ở trẻ em.
 
Siêu âm
 
Siêu âm là một kỹ thuật không gây đau, nó dùng sóng âm để giúp nhận dạng các cấu trúc. Nếu ruột thừa to lên, chẩn đoán viêm ruột thừa rất được gợi ý.
 
Ruột thừa chỉ có thể thấy ở khoảng 50% các lần siêu âm. Việc không thấy ruột thừa trong siêu âm không loại trừ được viêm ruột thừa. Siêu âm có thể hữu ích ở phụ nữ để loại trừ các tình huống đau do buồng trứng, vòi trứng và tử cung, chúng có thể giống các triệu chứng của viêm ruột thừa.
 
Phân tích nước tiểu
 
Phân tích nước tiểu là khảo sát vi thể nước tiểu để phát hiện hồng cầu, bạch cầu và vi trùng trong nước tiểu. Nó có thể giúp loại trừ các bệnh như nhiễm trùng tiết niệu hoặc sỏi thận mà có thể bị nhầm lẫn với viêm ruột thừa.
 
Số lượng bạch cầu trong máu
 
Số lượng bạch cầu trong máu nói chung sẽ tăng khi bị nhiễm trùng. Trong viêm ruột thừa sớm nó có thể bình thường, nhưng nói chung ít nhất có sự tăng nhẹ số lượng bạch cầu trong máu. Tuy nhiên, viêm ruột thừa không phải là tình trạng duy nhất gây tăng bạch cầu mà hầu như bất kỳ sự nhiễm trùng hoặc viêm nào cũng có thể gây ra số luợng bạch cầu cao bất thường.

Phòng ngừa:

Điều trị:

Nếu viêm ruột thừa được chẩn đoán hoặc rất nghi ngờ, điều trị tốt nhất là phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa. Người ta không biết ruột thừa đóng vai trò gì trong cơ thể người và cũng không biết những vấn đề sức khoẻ về lâu dài do việc cắt bỏ ruột thừa gây ra.
 
- Cắt ruột thừa cổ điển được thực hiện với gây mê. Một đường rạch nhỏ ở phần dưới của ổ bụng bên phải và qua đó ruột thừa được loại bỏ. Gần đây, cắt bỏ ruột thừa qua nội soi ổ bụng đang được thực hiện bởi các phẫu thuật viên. Cả hai phương pháp là những thủ thuật tốt và việc lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất được quyết định tốt nhất bởi phẫu thuật viên dựa trên cơ sở từng người.
 
- Nếu ruột thừa không bị vỡ (thủng) tại thời điểm phẫu thuật, bệnh nhân thường được cho về nhà trong vòng 1 đến 2 ngày. Nếu ruột thừa bị vỡ, thời gian nằm ở bệnh viện có thể từ 4 đến 7 ngày tuỳ vào mức độ trầm trọng của thủng và viêm phúc mạc. Kháng sinh đường tĩnh mạch được cho trong khi nằm viện để giúp tránh nhiễm trùng thêm và tạo áp xe.
 
- Thỉnh thoảng, bệnh nhân có thể không đến bác sĩ cho đến khi viêm ruột thừa đã hiện diện trong nhiều ngày, thậm chí vài tuần. Trong trường hợp này, một ổ áp xe thường được hình thành. Nếu ổ áp xe nhỏ, nó có thể được điều trị ban đầu bằng kháng sinh. Nói chung, ổ áp xe cần phải được dẫn lưu.
 
Nó thường được thực hiện với sự hỗ trợ của siêu âm, hoặc chụp cắt lớp điện toán. Thường không an toàn để cắt bỏ ruột thừa khi một ổ áp xe được hình thành rõ. Ruột thừa được cắt từ vài tuần đến vài tháng sau khi ổ áp xe đã hồi phục.
 
Cách này được gọi là cắt ruột thừa lúc nghỉ (hay cắt ruột thừa thì 2) và thực hiện để tránh đợt viêm ruột thừa khác.

Biến chứng:

- Thủng ruột thừa: Hay còn được gọi là vỡ ruột thừa. Đây là biến chứng thường gặp nhất của viêm ruột thừa. Nhiễm trùng toàn bộ màng bụng, là lớp lót bên trong ổ bụng, và vùng chậu dẫn tới những biến chứng nguy hiểm khác.
 
Nguyên nhân chính của thủng ruột thừa là chẩn đoán và điều trị muộn. Nói chung, khoảng thời gian giữa chẩn đoán và điều trị phẫu thuật càng dài thì nguy cơ bị thủng ruột thừa càng cao.
Tại thời điểm 36 giờ kể từ khi các triệu chứng đầu tiên khởi phát, thì nguy cơ thủng ruột thừa thấp nhất là 15%. Do đó, khi chẩn đoán là viêm ruột thừa thì nên tiến hành phẩu thuật, tránh những trì hoãn không cần thiết.
 
- Tắc ruột: Biến chứng này ít gặp hơn. Tắc ruột xuất hiện khi hiện tượng viêm xung quanh ruột thừa làm cho cơ của thành ruột ngưng hoạt động, ngăn cản không cho các thành phần bên trong lòng ruột được đẩy đi. Nếu đoạn ruột bên trên chổ tắc nghẽn chứa đầy dịch và chất lỏng thì bụng sẽ chướng và bệnh nhân cảm thấy buồn nôn hoặc nôn.
 
Điều này có thể cần đến việc dẫn lưu các thành phần bên trong ruột ra bên ngoài thông qua một ống được luồn vào mũi, thực quản, đến dạ dày và ruột.
 
- Nhiễm trùng huyết: Là hiện tượng vi khuẩn gây nhiễm trùng từ ruột thừa vào dòng máu và đi khắp cơ thể. Đây là một biến chứng nguy hiểm, có thể đe dọa tính mạng. Nhưng cũng may mắn là biến chứng này ít gặp.

Chế độ chăm sóc:

1. Nhận định tình trạng người bệnh
 
Trước mổ
 
- Toàn thân: Xem có hội chứng nhiễm trùng không?
 
+ Tinh thần tỉnh táo hay mệt mỏi?
 
+ Vẻ mặt có hốc hác, môi có khô, lưỡi có bẩn không?
 
+ Sốt nhẹ hay sốt cao?
 
+ Nước tiểu có vàng không?
 
+ Bạch cầu có tăng không?
 
- Tại chỗ
 
+ Đau bụng: đau từ khi nào? đau ở vị trí nào? đau âm ỉ hay đau dữ dội? đau liên tục hay đau thành từng cơn?
 
+ Người bệnh có nôn hay không, nếu có thì nôn nhiều hay ít?
 
+ Hỏi người bệnh có bí trung tiện không?
 
- Người bệnh có chán ăn, có đầy bụng không?
 
- Bụng xẹp hay trướng?
 
Sau mổ
 
- Dấu hiệu sinh tồn: cần xem người bệnh có còn sốt, mạch có nhanh không?
 
- Vết mổ: người bệnh có đau vết mổ không? xem vết mổ có bị chảy máu, có bị nhiễm khuẩn không? nhất là những trường hợp mổ viêm ruột thừa cấp có biến chứng. Nếu vết mổ có nhiễm khuẩn thì thường ngày thứ 3 hoặc thứ 4 người bệnh sẽ đau vết mổ.
 
- Lưu thông tiêu hoá: người bệnh đã trung tiện chưa? có nôn không? có đau bụng không?
 
- Dinh dưỡng: người bệnh đã ăn được gì? ăn có ngon miệng không?
 
- Với trường hợp mổ viêm ruột thừa cấp có biến chứng, cần phải nhận định ống dẫn lưu. Xem ống dẫn lưu được đặt ở đâu ra (đặt ở ổ áp xe trong trường hợp dẫn lưu ổ áp xe ruột thừa, đặt trong ổ phúc mạc nếu mổ viêm phúc mạc ruột thừa hoặc dẫn lưu manh tràng trong trường hợp mổ ruột thừa mà có hoại tử gốc không khâu buộc được)? Số lượng màu sắc, tính chất của dịch qua ống dẫn lưu ra ngoài?
 
- Tư tưởng, hoàn cảnh kinh tế gia đình người bệnh.
 
2. Những vấn đề cần chăm sóc
 
- Người bệnh sốt cao.
 
- Nhiễm trùng vết mổ.
 
- Nguy cơ chảy máu vết mổ.
 
- Vệ sinh thân thể kém.
 
- Nguy cơ đau đầu.
 
- Người bệnh lo lắng về bệnh.
 
3. Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch
 
Trước mổ
 
- Đối với trường hợp đang theo dõi viêm ruột thừa
 
+ Không được tự ý tiêm thuốc giảm đau.
 
+ Theo dõi mức độ đau xem có đau tăng lên không.
 
+ Theo dõi sốt: sốt có giảm đi hay sốt tăng lên.
 
+ Theo dõi số lượng bạch cầu.
 
+ Trong quá trình theo dõi, người điều dưỡng cần so sánh lần sau với lần trước để đánh giá sự tiến triển của bệnh.
 
+ Mục đích của việc theo dõi này là nhằm giúp thầy thuốc chẩn đoán bệnh.
 
- Đối với trường hợp đã chẩn đoán là viêm ruột thừa cấp: chuẩn bị người bệnh mổ cấp cứu càng sớm càng tốt. Công việc chuẩn bị giống như chuẩn bị mổ cấp cứu nói chung.
 
Sau mổ
 
- Đối với trường hợp mổ viêm ruột thừa cấp chưa có biến chứng
 
+ Tư thế nằm: phần nhiều mổ viêm ruột thừa cấp được vô cảm bằng phương pháp gây tê tuỷ sống, vì vậy sau mổ người điều dưỡng cần cho người bệnh nằm đúng tư thế sau mổ để tránh các biến chứng của gây tê tuỷ sống.
 
+ Theo dõi dấu hiệu sinh tồn: theo dõi 1 giờ/lần, theo dõi trong vòng 6 hoặc 12 giờ.
 
+ Chăm sóc vết mổ : Nếu vết mổ tiến triển tốt thì không cần thay băng hoặc 2 ngày thay băng một lần. Cắt chỉ sau 7 ngày.
 
+ Chăm sóc về dinh dưỡng
 
. Sau 6-8 giờ mà người bệnh không nôn thì cho uống nước đường, sữa.
 
. Khi có nhu động ruột, cho bệnh nhân ăn cháo, súp trong vòng 2 ngày, sau đó cho ăn uống bình thường.
 
+ Chăm sóc vận động
 
. Cho người bệnh vận động sớm khi có đủ điều kiện.
 
. Ngày đầu cho người bệnh nằm thay đổi tư thế.
 
. Ngày thứ hai cho ngồi dậy và dìu đi lại.
 
- Trường hợp mổ ruột thừa có biến chứng: thường do ruột thừa vỡ dẫn đến viêm phúc mạc.
 
+ Tư thế nằm của người bệnh : Khi người bệnh tỉnh cho nằm tư thế Fowler nghiêng về phía có đặt dẫn lưu để dịch thoát ra được dễ dàng.
 
+ Chăm sóc ống dẫn lưu
 
. Ống dẫn lưu ổ bụng phải được nối xuống túi vô khuẩn hoặc chai vô khuẩn có đựng dung dịch sát khuẩn để tránh nhiễm khuẩn ngược dòng.
 
. Cho người bệnh nằm nghiêng về bên có ống dẫn lưu để dịch thoát ra được dễ dàng. Tránh làm gập, tắc ống dẫn lưu.
 
. Theo dõi về số lượng, màu sắc, tính chất của dịch qua ống dẫn lưu ra ngoài. Bình thường ống dẫn lưu ổ bụng ra với số lượng ít dần và không hôi.
 
. Nếu ống dẫn lưu ra dịch bất thường hoặc ra máu, cần báo cáo ngay với thầy thuốc.
 
. Thay băng chân ống dẫn lưu và sát khuẩn thân ống dẫn lưu, thay túi đựng dịch dẫn lưu hằng ngày.
 
. Nếu ống dẫn lưu để phòng ngừa thì thường được rút khi người bệnh có trung tiện, muộn nhất là sau 48 - 72 giờ.
 
. Nếu ống dẫn lưu ở ổ áp xe ruột thừa: rút chậm hơn. Khi có chỉ định rút thì rút từ từ, mỗi ngày rút bớt 1 - 2 cm đến khi dịch ra trong (dịch tiết) thì có thể rút bỏ hẳn.
 
+ Chăm sóc vết mổ
 
Nếu vết mổ nhiễm trùng: cắt chỉ sớm để dịch mủ thoát ra được dễ dàng (đối với trường hợp mổ viêm ruột thừa cấp đã có biến chứng thì vết mổ hay bị nhiễm khuẩn). Nếu vết mổ không khâu da, điều dưỡng thay băng hằng ngày. Khi vết mổ có tổ chức hạt phát triển tốt (không có mủ, nền đỏ, dễ chảy rớm máu): cần báo lại với thầy thuốc để khâu da thì 2.
 
+ Dinh dưỡng
 
. Khi chưa có nhu động ruột, nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch.
 
. Khi đã có nhu động ruột thì bắt đầu cho bệnh nhân uống, sau đó cho ăn từ lỏng tới đặc.
 
- Theo dõi biến chứng sau mổ của viêm ruột thừa và viêm phúc mạc ruột thừa
 
+ Chảy máu trong ổ bụng: do tuột động mạch treo ruột thừa, chảy máu từ những chỗ bóc tách manh tràng ra khỏi thành bụng sau trong trường hợp cắt ruột thừa sau manh tràng, chảy máu từ mạch của mạc nối lớn. Người bệnh có hội chứng mất máu, nếu có ống dẫn lưu thì máu sẽ theo ống dẫn lưu ra ngoài. Tính chất của máu là màu hồng đôi khi có dây máu.
 
+ Chảy máu ở thành bụng: gây tụ máu ở thành bụng là nguy cơ nhiềm trùng vết mổ, toác vết mổ và thoát vị thành bụng sau mổ.
 
+ Viêm phúc mạc sau mổ:
 
. Viêm phúc mạc khu trú: do mủ lau chưa sạch hoặc bục gốc ruột thừa. Thường người bệnh có hội chứng nhiễm trùng rõ, đôi khi có hội chứng tắc ruột hoặc bán tắc ruột, nếu còn ống dẫn lưu thì thấy mủ hoặc dịch tiêu hoá chảy qua ống đó ra ngoài.
 
. Viêm phúc mạc toàn thể: do lau rửa mủ chưa sạch hoặc ổ áp xe vỡ ra hoặc bục gốc ruột thừa, dịch tiêu hoá lan tràn khắp ổ bụng. Người bệnh có hội chứng viêm phúc mạc rõ.
 
+ Rò manh tràng: manh tràng rò dính sát vào thành bụng làm dịch tiêu hoá và phân trực tiếp rò ra ngoài không gây nên biến chứng viêm phúc mạc khu trú hay toàn thể.
 
+ Nhiễm trùng thành bụng
 
. Vết mổ tấy đỏ tụ máu ở dưới, làm người bệnh luôn thấy vết mổ căng đau.
 
. Áp xe thành bụng: khám thấy một khối tròn căng đẩy vết mổ phồng lên, sưng, nóng, đỏ, đau.
 
. Toác thành bụng: gây lòi ruột.
 
- Đối với trường hợp đám quánh ruột thừa: khi người bệnh ra viện, hướng dẫn cho người bệnh trong quá trình về nhà nếu có đau lại hố chậu phải, sốt thì phải đến viện khám lại ngay.
 
Giáo dục sức khoẻ
 
- Giáo dục cho cộng đồng hiểu biết về viêm ruột thừa cấp để người bệnh có ý thức đến viện sớm khi có các triệu chứng của bệnh.
 
- Đối với người bệnh đã mổ viêm ruột thừa cấp, đặc biệt là viêm ruột thừa cấp đã có biến chứng viêm phúc mạc, cách phòng, chống biến chứng tắc ruột sau mổ:
 
+ Tránh ăn nhiều chất xơ.
 
+ Tránh gây rối loạn tiêu hoá.
 
+ Nếu đau bụng cơn + nôn, hãy đến viện khám lại.
 
Đánh giá
 
Việc chăm sóc được coi là có kết quả khi:
 
- Chuẩn bị tốt người bệnh trước mổ.
 
- Sau mổ: người bệnh tiến triển tốt, không có nhiễm khuẩn vết mổ.
 
- Sức khoẻ người bệnh nhanh hồi phục.

Bài thuốc dân gian: