Cơn đau quặn thận

14/11/2016 09:47:52

Cơn đau quặn thận là cơn đau rất cấp tính, dữ dội thường yêu cầu xử trí cấp cứu.

Cơn đau quặn thận thường xuất hiện sau một gắng sức với đặc điểm đau vùng hố thắt lưng, đau lan phía trước vùng hạ sườn phải hoặc hạ sườn trái, lan xuống vùng bẹn, vùng sinh dục ngoài. Đau dữ dội không có tư thế nào giảm đau. Đây là cơn đau rất cấp tính, dữ dội thường yêu cầu xử trí cấp cứu. Đau toát mồ hôi, đôi khi buồn nôn, nôn, mót đi ngoài, buồn đi tiểu, bụng chướng, mặt tái nhợt. Cơn đau thường kéo dài 20-60 phút, thậm chí lâu hơn trong vài giờ. Đau có thể kèm theo đái máu, sốt hoặc ớn lạnh.
 
Bên cạnh đau dữ dội, một số triệu chứng khác gợi ý tình trạng nặng như sốt cao trên 38,5 độ C, không đi tiểu được, nôn nhiều không kiểm soát được. Khi có một trong các triệu chứng trên cần nhập viện cấp cứu.
 
Có nhiều nguyên nhân gây ra cơn đau quặn thận như sỏi niệu quản, xuất huyết đài bể thận, viêm chít hẹp quanh niệu quản, sỏi đài bể thận, u niệu quản, u bàng quang…nhưng thường gặp là do sỏi thận.
 

Nguyên nhân:

Nguyên nhân gây ra cơn đau quặn thận là do  chứng sỏi tiết niệu, huyết khối trong niệu quản hoặc khối u chèn ép niệu quản từ bên ngoài gây tắc cấp tính đường dẫn tiểu, dẫn đến ứ nước, căng trướng đài bể thận đột ngột gây ra cơn đau quặn thận.
 
- Sỏi niệu quản là căn nguyên thường gặp nhất. Sỏi gây ứ niệu làm tăng áp lực trong đài-bể thận, gây tổn thương niệu quản dẫn đến đái máu đại thể. Để chẩn đoán sỏi niệu quản, người ta cần chụp Xquang thận Để phát hiện sỏi nằm trên đường đi của niệu quản. Trên siêu âm thận tiết niệu có hình ảnh đài bể thận giãn là dấu hiệu gián tiếp của sỏi niệu quản.  Nguyên nhân gây ra sỏi thận thường do tích tụ các chất khoáng canxi, oxalate, cystine hoặc acid uric trong nước tiểu. Bệnh hay gặp ở nam giới và có tỷ lệ cao gấp 3 lần so với nữ giới. Bệnh có thể gặp ở nhiều lứa tuổi tuy nhiên độ tuổi hay gặp nhất là từ 20-50 tuổi.
 
- Xuất huyết đài-bể thận: chảy máu vùng đài-bể thận hình thành máu tụ trong bể thận dẫn đến tắc niệu quản. Những trường hợp Xuất huyết đài-bể thận đơn thuần khi kiểm tra siêu âm và Xquang tiết niệu không có sỏi.
 
- Viêm chít hẹp quanh niệu quản: Viêm mãn tính thường gặp do lao thận-tiết niệu hoặc u sau phúc mạc chèn ép vào niệu quản.
 
- Một số trường hợp đau quặn thận do sỏi đài-bể thận.
 
- U niệu quản, u bàng quang gây hẹp lỗ niệu quản đổ vào bàng quang.

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Cơn đau quặn thận thường xuất hiện sau một gắng sức với đặc điểm đau vùng hố thắt lưng, đau lan phía trước vùng hạ sườn phải hoặc hạ sườn trái, lan xuống vùng bẹn, vùng sinh dục ngoài. Đau dữ dội không có tư thế nào giảm đau. Đau toát mồ hôi, đôi khi buồn nôn, nôn, mót đi ngoài, buồn đi tiểu, bụng chướng, mặt tái nhợt. Cơn đau thường kéo dài 20-60 phút, thậm chí lâu hơn trong vài giờ. Đau có thể kèm theo đái máu, sốt hoặc ớn lạnh.
 
- Cơn đau quặn thận có thể xuất hiện đột ngột do sự căng trướng đột ngột của vỏ bao thận hoặc của niệu quản và đài bể thận. Nó có thể xảy ra sau khi chơi thể thao, lao động hay đi một quãng đường xa. Bệnh nhân đau như dao đâm, như có sự co thắt ở bên trong.
 
- Cơn đau có thể xuất phát từ thận: Đau khu trú ở vùng sườn, thắt lưng, dưới xương sườn 12, bên ngoài của khối cơ chung thắt lưng - cùng, lan ra phía trước, hướng về phía rốn và hố chậu. Cơn đau này gặp trong viêm bể thận cấp tính, sỏi bể thận gây ứ nước cấp tính, gây sự căng trướng đột ngột của bao thận hoặc sỏi niệu quản ở 1/3 trên.
 
- Nhiều trường hợp cơn đau xuất phát từ niệu quản. Người bệnh đau từ hố thắt lưng và lan xuống dưới, dọc theo đường đi của niệu quản đến hố chậu, bộ phận sinh dục và mặt trong của đùi.
 
Nếu hòn sỏi xuống đến phần cuối của niệu quản thì có thể gây ra phù nề và viêm nhiễm ở lỗ niệu, làm bệnh nhân có dấu hiệu đái rắt. Kèm theo cơn đau, bệnh nhân có thể nôn mửa hay buồn nôn, trướng bụng, có thể có sốt và rét run trong trường hợp nhiễm trùng niệu kết hợp.
 
- Thăm khám người bệnh thấy đau nhói ở điểm sườn thắt lưng, dưới xương sườn 12 và cả hố chậu cũng rất đau. Nếu lúc đang cơn đau thì khi sờ nhẹ vào hố thắt lưng, bệnh nhân đã giật nảy người. Các xét nghiệm cần làm là thử nước tiểu, xét nghiệm máu, chụp Xquang hệ tiết niệu, siêu âm thận…, theo dõi số lượng nước tiểu trong 24 giờ.
 
- Một số triệu chứng khác gợi ý tình trạng nặng như sốt cao trên 38,5 độ C, đau nặng dữ dội, không đi tiểu được, nôn nhiều không kiểm soát được. Khi có một trong các triệu chứng trên cần nhập viện cấp cứu.

Chẩn đoán bệnh:

Cơn đau quặn thận phải cần chẩn đoán phân biệt với viêm ruột thừa cấp tính: đau hố chậu phải, điểm Mac Burney (+), phản ứng vùng hố chậu kèm theo sốt nhẹ 37-38 độ C, buồn nôn, nôn, bạch cầu tăng, công thức bạch cầu chuyển trái. 
 
Trong thực tế 2 bệnh này rất hay nhầm lẫn. Một số trường hợp chẩn đoán viêm ruột thừa, sau phẫu thuật không hết cơn đau, chụp Xquang phát hiện sỏi niệu quản 1/3 dưới.
 
Phân biệt cơn đau quặn thận phải với cơn đau quặn gan do sỏi đường mật: đau vùng hạ sườn phải dữ dội, kèm theo sốt cao rét run, vàng mắt, vàng da (tam chứng Charcot). Siêu âm gan-mật thấy sỏi ống mật, đường mật trong gan giãn. Cơn đau quặn gan do giun chui ống mật khi siêu âm có thể phát hiện giun hoặc xác giun trong đường mật.
 
Phân biệt với cơn đau dạ dày-tá tràng cấp: tiền sử có loét dạ dày-tá tràng: đau bụng thường xuất hiện lúc đói (10 giờ sáng, 4 giờ chiều hoặc đau về đêm). Xác định chẩn đoán bằng soi dạ dày-tá tràng.
 
Viêm tụy cấp tính: đau bụng dữ dội, men tụy tăng rất cao.
 
Hội chứng bụng ngoại khoa:
 
- Viêm ruột thừa cấp.
 
- Thủng dạ dày-tá tràng.
 
- Thủng ruột do thương hàn, do thuốc corticoid, do thuốc chống viêm không steroid.
 
- Tắc ruột.
 
Cần chụp Xquang phát hiện liềm  hơi dưới cơ hoành phải do thủng tạng rỗng, hình khí nước trong ổ bụng do tắc ruột.

Phòng ngừa:

Điều trị:

Việc điều trị cơn đau quặn thận chủ yếu là giảm đau, giải phóng đường tiết niệu bị tắc nghẽn. Bệnh nhân cũng phải dùng thuốc chống viêm để giảm sự phù nề, chống co thắt, điều trị biến chứng chống nhiễm trùng, chống suy thận.
 
Nếu sau cơn đau sỏi vẫn còn, bệnh nhân sẽ cảm thấy đau ê ẩm ở vùng thắt lưng trong 5-7 ngày. Nên chụp Xquang để nếu thấy sỏi không di chuyển thì can thiệp để giải phóng sự bế tắc ở niệu quản. Có thể giải quyết bằng phương pháp nội soi, tán sỏi ngoài cơ thể hoặc mổ lấy sỏi tùy theo từng bệnh nhân và điều kiện của từng bệnh viện.
 
- Phụ thuộc vào vị trí và kích thước sỏi. Nếu là sỏi nhỏ (đường kính dưới 4mm), bệnh nhân không đau nhiều (đáp ứng với các thuốc giảm đau đường uống) không nôn, đi tiểu được, ăn uống được có thể được điều trị tại nhà. Nếu sỏi lớn (trên 4mm) hoặc bệnh nhân có các triệu chứng nặng cần nhập viện điều trị.

Biến chứng:

Chế độ chăm sóc:

1. Các thực phẩm nên tránh khi bị sỏi
 
Các loại thịt và thịt gia cầm: Giảm lượng thịt bò, thịt gia cầm và cá vì đây là những thực phẩm giàu protein. Nhiều protein trong chế độ ăn uống sẽ khiến lượng oxalate trong nước tiểu tăng lên, hình thành các loại sỏi.
 
Một số loại rau quả: Trong khi cố gắng để loại bỏ các thực phẩm có chứa oxlate từ thịt thì cũng lưu ý một số loại rau quả có thể là ‘tòng phạm’ gây sỏi thận. Ví dụ như rau bina được cho là tạo nhiều oxalate nhất.
 
Ngoài ra, các loại thực phẩm khác có chứa oxalate bao gồm các loại đậu, củ cải đường, dâu, sô-cô-la, cà phê và đậu phộng (lạc).
 
2. Chế độ dinh dưỡng cho người sỏi thận
 
Phương pháp đa năng và đơn giản nhất để phòng ngừa hình thành sỏi thận là pha loãng nước tiểu, do đó cần uống nhiều nước, để mỗi ngày thải ra khoảng 2-2,5 lít nước tiểu. Tuy nhiên, biện pháp này không thích hợp với những người mắc bệnh tim mạch.
 
Thực phẩm nên ăn khi sỏi thận
 
- Canxi: ban đầu nhiều người nghĩ rằng sự gia tăng đáng kể mức hấp thụ canxi trong chế độ ăn sẽ làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận. Tuy nhiên, điều này giờ đây được chứng minh không chính xác. Thực tế, việc ‘nạp’ các thực phẩm chứa canxi chủ yếu là từ các sản phẩm chế biến từ sữa như phô mai, sữa và sữa chua… giúp giảm nguy cơ hình thành sỏi thận.
 
- Uống nhiều nước: giúp thanh lọc cơ thể. Với những người bị sỏi thận, các chuyên gia y tế khuyên nên uống ít nhất 3 lít nước mỗi ngày. Điều này sẽ giúp thải lọc những viên sỏi nhỏ hoặc các chất dư thừa trong thận mà có thể hình thành sỏi thận.

Bài thuốc dân gian:

- Có thể sử dụng thuốc Y học cổ truyền để chữa bệnh trào ngược dạ dày – thực quản nhưng phải được thầy thuốc kê đơn và hướng dẫn cẩn thận.
 
- Các bài thuốc  này chỉ có tính chất tham khảo.
 
Cơn đau quặn thận Đông y gọi là ‘Thận giảo thống’. Là hiện tượng sỏi nhỏ di chuyển xuống niệu quản làm cho co thắt thận và niệu quản mà sinh ra cơn đau.
 
Nguyên nhân do bàng quang và tiểu trường bị thấp nhiệt uất kết lâu ngày mà thành sỏi, khiến làm cho rối loạn chức năng khí hóa, tiểu không thông gây ra cơn đau bụng dữ dội, hướng đau xuyên ra sau lưng, xuyên xuống vùng sinh dục đùi.
 
Triệu chứng: Đột nhiên đau quặn bụng vùng sườn lưng dữ dội, đau như cắt, đau lan tỏa ra sau lưng và lan tỏa xuống mé trong đùi, đường tiểu đau, tức, muốn tiểu không đi được, mặt tái, vã mồ hôi, buồn nôn hoặc nôn mửa. Đau dữ dội có thể bị ngất xỉu. Tuy nhiên cũng còn tùy thuộc vào vị trí và tính chất của từng loại sỏi mà cơn đau xảy ra cũng biểu hiện khác nhau.
 
- Đau do sỏi tại bể thận: Ít đau nếu như vị trí sỏi nằm trong nhu mô thận. Khi sỏi lại nằm ở đài hay bể thận sẽ gây ứ nước tiểu tại bể thận, đài thận hoặc gây ra viêm nhiễm thứ phát hoặc gây đau âm ỉ tại một vùng ở bên hông, cũng có khi đau cả hai bên. Khiến cho nước tiểu bị sẫm màu hoặc đái ra máu.
 
- Sỏi nằm trên đường niệu quản: Đau từng cơn dữ dội mỗi khi sỏi di chuyển làm cho người bệnh có khi đứng ngồi không yên, mồ hôi vã ra. Tính chất đau cũng khá dữ dội, đau như xé, như dao đâm, lan xuống bàng quang và vùng bẹn, đùi, có thể kèm đái máu.
 
- Sỏi bàng quang thường thấy đau ở vùng bụng dưới kèm theo tiểu gắt, tiểu buốt, cũng có khi đang tiểu đột ngột bị tắc và làm đau buốt, nhưng khi thay đổi vị trí tư thế lại tiểu được.
 
- Sỏi niệu đạo thường gây ra bí tiểu, tiểu buốt ra đầu dương vật và đau như xé làm bệnh nhân phải kêu la.
Căn cứ vào nguyên nhân bệnh sinh mà biện chứng luận trị cần thanh lợi thấp nhiệt, tuyên khí, trấn thống.
 
Dựa vào biện chứng luận trị mà gia các phương:
 
Lý khí hoạt huyết thang: có tác dụng ôn thông khí cơ, hành khí, đạo trệ. Trị cơn đau quặn thận: Gồm các vị: bạch thược 30g, chỉ xác 30g, cam thảo 10g, trầm hương 5g, ô dược 12g, quy vĩ 12g, xuyên ngưu tất 15g, vương bất lưu hành 15g, hoàng kỳ 20g. Sắc uống nóng ngày 1 thang, chia 2-3 lần.
 
Gia giảm: Nếu hàn trệ kinh lạc gia ngô thù, hồi hương, tế tân, hương phụ. Tiểu ra máu nhiều gia mao căn, tiểu kế. Nếu do thấp nhiệt nhiều gia sinh địa, chi tử, mộc thông, xa tiền tử. Khi đau nhiều không bớt gia nhũ hương, mộc dược.
 
Sâm phụ thang gia vị: có tác dụng ích khí ôn dương, hoạt huyết, chỉ thống. Trị đau quặn thận do sỏi. Gồm các vị như đảng sâm 30g, phục linh 30g, phụ phiến 15g, sinh khương 6g, nhũ hương chế 12g, một dược chế 10g. Sắc uống ngày 1 thang; thường uống 1- 4 thang là khỏi. Muốn tống sỏi ra lại cần gia những vị khác cho thích hợp.
 
Chân vũ thang gia giảm: Phương này có tác dụng ôn dương tán hàn, giải kính, chỉ thống. Trị cơn đau quặn thận do sỏi. Gồm các vị như phụ tử chế 9-10g, quất hạch 10g, lê chi hạch 10g, đại hoàng 6-9g, bạch thược (sao) 30g, phục linh 30g, chích cam thảo 3g, sinh khương 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần trong ngày.
 
Ma phụ tế tân thang: Tác dụng của phương là ôn dương, tán hàn, hoãn cấp, chỉ thống. Trị cơn đau quặn thận do sỏi đường tiểu. Các vị gồm ma hoàng 6g, tế tân 6g, phụ tử 15g. Sắc đun to lửa, không đun lâu, vớt bọt nổi trên, uống ấm. Nếu chưa giảm nửa giờ sau lại uống 1 lần nữa.
 
Bổ trung ích khí thang: Phương có tác dụng bổ trung ích khí, hành khí tán kết, hoãn cấp, chỉ thống. Trị cơn đau quặn thận do sỏi thận, sỏi đường tiểu.
 
Thang gồm đảng sâm 15g, bạch truật 12g, hoàng kỳ 18g, đương quy 10g, tiểu hồi 10g, xuyên luyện tử 10g, thăng ma 5g, sài hồ 5g, trần bì 5g, trầm hương 5g, chích cam thảo 5g, lộc giác sương 30g, hồng táo 5 quả, sinh khương 3 lát, sắc uống ngày 1 thang, chia 2-3 lần trong ngày.