Đau đầu mạn tính

14/11/2016 09:47:47

Đau đầu mạn tính có thể là hệ quả của việc thường xuyên mất ngủ.

Tầm quan trọng của giấc ngủ
 
Trong khi ngủ cơ thể chúng ta tiết ra những hormone quan trọng giúp quá trình chuyển hóa, tích lũy năng lượng cần thiết cho hoạt động trong ngày và quá trình tăng trưởng cơ thể, giúp não bộ sắp xếp lại những thông tin một cách hệ thống, thiết lập và củng cố khả năng ghi nhớ dài hạn của não bộ. Điều này cực kỳ cần thiết để cho cơ thể phát triển và thích nghi với môi trường sống.
 
Trẻ mới sinh ra cần ngủ đến 20 giờ mỗi ngày, nói lên tầm quan trọng của giấc ngủ đối với quá trình phát triển thể chất và tinh thần của chúng ta.
 
Thiếu ngủ sẽ dẫn đến một số biểu hiện sau:
 
+ Mệt mỏi, uể oải trong ngày.
 
+ Bồn chồn, dễ nóng giận.
 
+ Quên, không thể tập trung vào công việc.
 
+ Khó đưa ra những quyết định sáng suốt.
 
+ Tăng tính bị ám thị, dễ bị ảnh hưởng bởi người khác.
 
+ Mất khả năng thiết lập kế hoạch cho tương lai.
 
+ Có thể có những ảo giác nghĩa là nhìn thấy những hình ảnh không có thực.
 
Những dấu hiệu này nặng hay nhẹ tùy thuộc vào tình trạng mất ngủ nhiều hay ít.
 
Rối loạn giấc ngủ là gì?
 
Rối loạn giấc ngủ là chứng bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, giới tính do nhiều nguyên nhân khác nhau. Dưới áp lực của đời sống hiện đại khiến bệnh rối loạn giấc ngủ ngày càng phổ biến..
 
Rối loạn giấc ngủ thường biểu hiện dưới 3 hình thái chủ yếu là chứng mất ngủ, chứng ngủ nhiều và tình trạng rối loạn nhịp thức ngủ.
 
Chứng mất ngủ: Ở những người này, việc đi vào giấc ngủ và duy trì nó trở nên khó khăn, làm cho thời gian ngủ ít đi và chập chờn không sâu. Chứng mất ngủ đa phần liên quan đến tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm và các bệnh rối loạn tâm thần khác, đôi khi là triệu chứng của một bệnh thực thể.
 
Được gọi là rối loạn giấc ngủ khi mất ngủ xảy ra ít nhất 3 lần/tuần, trong thời gian ít nhất 1 tháng. Tình trạng mất ngủ kéo dài làm bệnh nhân lo lắng, sợ hãi thậm chí trầm cảm và hậu quả là càng mất ngủ hơn.
 
Chứng ngủ nhiều: Ngủ nhiều được chia làm 3 loại chính là ngủ rũ, ngủ nhiều nguyên phát và hội chứng ngừng thở khi ngủ.
 
- Ngủ rũ: là một tình trạng bệnh lý thần kinh mạn tính, có đặc điểm là bệnh nhân đi vào giấc ngủ không thể cưỡng lại được trong khi đang nghỉ ngơi hoặc hoạt động, trừ lúc ăn uống hay vệ sinh.
 
- Trong chứng ngủ nhiều nguyên phát, ban đêm bệnh nhân ngủ nhiều, nhưng ban ngày lại rất buồn ngủ và hay ngủ gật. Tuy nhiên, người bệnh vẫn có khả năng chống lại những cơn buồn ngủ này. Tình trạng ngủ nhiều tồn tại ít nhất từ 1 tháng trở lên và ảnh hưởng tới sinh hoạt hàng ngày.
 
- Hội chứng ngừng thở khi ngủ có biểu hiện là ngừng hô hấp khoảng 20-40 giây trong khi ngủ. Hội chứng ngừng thở gây giảm bão hòa ôxy và tăng nồng độ carbonic trong máu, làm bệnh nhân có nhiều lúc tỉnh giấc ngắn trong đêm.
 
Rối loạn nhịp thức ngủ: là hiện tượng mất đồng bộ nhịp thức ngủ của người bệnh và của người thường. Quá trình bệnh lý này thường gây những thời điểm tỉnh giấc bất thường trong giấc ngủ, kèm theo những hành vi tự động, lú lẫn tâm thần và quên. Chính vì vậy mà giấc ngủ ngắn, không sâu, bệnh nhân cảm thấy không thỏa mãn. Nguyên nhân gây bệnh thường là yếu tố tâm lý, nhưng cũng có thể là bệnh thực thể hoặc di truyền.
 

Nguyên nhân:

Các yếu tố, nguy cơ:

Tại Bệnh viện Chợ Rẫy (TP. Hồ Chí Minh), Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), những năm gần đây lượng bệnh nhân đến khám được phát hiện mắc rối loạn giấc ngủ do bị căng thẳng trong công việc hay bị stress trong cuộc sống ngày càng nhiều.
Áp lực lớn của xã hội công nghiệp, môi trường sống thay đổi và do kinh tế khiến con người căng thẳng quá mức hay những bức xúc về xã hội, công việc, khủng hoảng tâm lý, tình cảm, stress mạnh làm cho rối loạn giấc ngủ gia tăng.
 
Thống kê cho thấy 80% số bệnh nhân đến khám đều mắc rối loạn giấc ngủ với các triệu chứng ngáy, ngưng thở khi ngủ. 5% trong số đó ở thời kỳ bệnh quá nặng. Những người làm công việc đòi hỏi sự tập trung cao độ, căng thẳng rất dễ bị mắc bệnh này.
 
Nhiều nhất là các nhà quản lý, nhà kinh doanh, công nhân kỹ thuật, người làm việc liên tục với máy tính, lái xe…

Triệu chứng, biểu hiện:

Đau đầu hằng ngày mạn tính trong đau nừa đầu migrain: Cơn đau nửa đầu xảy ra ngày càng thường xuyên và cuối cùng có thể diễn ra suốt ngày. Đau dai dẳng ở rmột hoặc cả hai bên đầu, kèm theo đau ở vùng cổ và mặt. Những triệu chứng hay gặp của đau nửa đầu như buồn nôn, sợ ánh sáng và tiếng động thường giảm đi, nhưng đôi khi bệnh nhân vẫn có cơn đau nửa đầu.
 
- Đau đầu mạn tính dạng căng thẳng: Đau ở cả hai bên đầu và sau gáy, cảm giác đau âm ỉ hoặc như có một dải băng thắt chặt quanh đầu. Cơn đau có thể thay đổi trong ngày hoặc giữ nguyên trong nhiều ngày, nhiều tuần hoặc thậm chí hằng năm.
 
- Cơn đau đầu dai dẳng hằng ngày mới xuất hiện: Cơn đau dai dẳng hằng ngày xuất hiện đột ngột ở người không có tiền sử đau đầu. Đôi khi cơn đau khởi phát sau một nhiễm trùng, phẫu thuật hoặc stress, nhưng thường không có nguyên nhân. Đau có thể được mô tả là như dao đâm, âm ỉ, nhức nhối hoặc như bị bóp mạnh. Một số trường hợp cơn đau hết sau vài tháng. Một số khác cơn đau có thể kéo dài hàng chục năm.
 
- Đau nửa đầu trường diễn là một dạng đau đầu hằng ngày mạn tính. Đau xảy ra ở một bên đầu và khác nhau trong cường độ mà không bao giờ hết hoàn toàn. Cơn đau dữ dội có thể kèm theo chảy nước mắt hoặc đỏ mắt ở bên bị bệnh, sưng hoặc sụp mi, hắt hơi, chảy nước mũi, buồn nôn, nôn, sợ ánh sáng và tiếng ồn.

Chẩn đoán bệnh:

Khai thác bệnh sử: Trong phần khai thác bệnh sử cần tập trung làm rõ các điểm sau:
 
Cách khởi phát: Thông thường mỗi loại đau đầu có một cách khởi phát tương đối đặc trưng. Ví dụ:
 
- Kịch phát, đột ngột: thường do chảy máu nội sọ.
 
- Đột ngột, dữ dội, phụ thuộc vào tư thế : thường do u não thất.
 
- Cường độ tiến triển tăng dần trong 1 thời gian dài: thường do khối phát triển nội sọ.
 
- Đau đầu tái diễn, thành cơn, khởi phát ở tuổi thiếu niên và người trẻ, hay gặp ở nữ giới, kèm theo buồn nôn, nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng động, thường là Migraine…
 
Vị trí đau: Vị trí đau đầu của bệnh nhân cần được xác định rõ ràng. Nó có vai trò tương đối quan trọng trong việc xác định nguyên nhân.
 
- Đau một bên thay đổi khi bên phải, khi bên trái thường là Migraine. Migraine có thể khu trú mọi vị trí trên sọ nhưng thường ở vùng thái dương.
 
- Đau một bên hốc mắt cố định, thời gian của cơn ngắn thường là đau đầu chuỗi.
 
- U hố sau giai đoạn sớm thường đau ở vùng chẩm.
 
- Đau đầu do căng thẳng khu trú một hoặc hai bên, đau nhất vùng cổ-vai và chẩm, cũng có khi đau cả vùng trán.
 
- Đau đầu do suy nhược thần kinh thường lan toả, kiểu đội mũ chật…
 
Tần số và chu kỳ của đau đầu tái diễn:
 
- Cơn Migraine; không đau hàng ngày hoặc tồn tại lâu dài. Tần số thường từ 1 - 2 cơn/tuần.
 
- Đau đầu chuỗi: xảy ra hàng ngày và kéo dài hàng tuần hoặc vài tháng, sau đó là thời gian ổn định tương đối dài. Tuy nhiên đau đầu chuỗi mạn tính có thể kéo dài hàng năm.
 
- Chứng đau nửa đầu thành cơn mạn tính; thường xảy ra nhiều lần trong ngày và kéo dài hàng năm.
 
Thời gian kéo dài của cơn:
 
- Bệnh Migraine chỉ có cơn kéo dài từ 4 - 72 giờ, thường đạt cường độ đau dữ dội sau khi khởi phát 1- 2 giờ.
 
- Đau đầu chuỗi: cơn kéo dài 20 - 60 phút, đặc trưng của chứng đau này là đạt cường độ cực đại ngay lập tức.
 
- Đau đầu do căng thẳng: cơn đau tăng trong vài giờ, cường độ ít khi dữ dội nhưng cơn thường tồn tại lâu ngày, có khi hàng năm.
 
- Cũng có bệnh nhân có đau đầu hỗn hợp, khi đó thời gian cơn đau sẽ thay đổi.
 
- Trong chảy máu nội sọ, đau đầu đạt cực đại ngay lập tức và tồn tại thường xuyên liên tục trong thời gian tương đối dài.
 
Thời gian xuất hiện:
 
- Đau đầu chuỗi: thường xuất hiện khi ngủ và có thiên hướng lặp lại đúng thời gian đó.
 
- Migraine xuất hiện bất kỳ nhưng có thiên hướng xuất hiện vào các buổi sáng.
 
- Tăng áp lực nội sọ: đau nhiều khi đêm về sáng làm bệnh nhân tỉnh dậy, cường độ đau tăng khi đi lại.
 
- Đau đầu do căng thẳng: thường đau ban ngày và tăng về cuối ngày.
 
Các yếu tố gây cơn:
 
- Migraine: nhiều bệnh nhân có cơn đau khi thay đổi thời tiết, mất ngủ hoặc ngủ dài (hoặc ngắn) hơn bình thường, khi ăn một số thức ăn nhất định (chocolate, tôm…), sau khi uống rượu (nhất là rượu vang đỏ), bia, nhìn ánh sáng chói. Các bệnh nhân nữ thường có cơn đau vào chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng…
 
- Bệnh lý nội sọ, đặc biệt bệnh lý hố sau: đau tăng khi cúi, ho, khi làm nghiệm pháp Valsava.
 
- Giảm DNT: ngồi, đứng đau nhiều nhưng khi nằm đỡ đau nhanh.
 
Tính chất và cường độ:
 
- Migraine: tính chất mạch đập, cường độ vừa đến dữ dội.
 
- Đau đầu chuỗi: đau nhức, nặng nề như khoan, ổn định về cường độ.
 
- Đau đầu do căng thẳng: cảm giác căng, chặt, đầy, ép.
 
- Đau đầu do bệnh lý màng não: cường độ rất dữ dội, nặng nề, kéo dài liên miên.
 
Tiền triệu, các triệu chứng thoảng qua và các triệu chứng kèm theo:
 
- Muốn chẩn đoán chính xác đau đầu cần phải kết hợp với các triệu chứng kèm theo cơn đau.
 
- Aura: triệu chứng não khu trú thoảng qua thường xảy ra trước cơn Migraine dưới 1 giờ.
 
- Co đồng tử, sụp mi, tăng tiết nước mắt, xung huyết kết mạc, ngạt mũi, nề mặt, quanh hốc mắt, đỏ mặt bên đau là các triệu chứng kèm theo trong cơn đau đầu chuỗi.
 
- Do tổn thương cấu trúc nội sọ: đau đầu dai dẳng, tiến triển tăng dần.
 
Yếu tố tăng đau:
 
- Đau tăng khi ho: tổn thương nội sọ, tăng áp lực nội sọ.
 
- Vận động tăng đau: bệnh cơ, xương, khớp hoặc bệnh chèn ép các dây thần kinh ngoại vi cảm giác hoặc hỗn hợp.
 
- Hoạt động, vận động cơ thể: Migraine, đau đầu do căng thẳng.
 
- Đau tăng khi cúi: đau đầu chuỗi …
 
Yếu tố dịu đau:
 
-  Cơn đau Migraine dịu đi khi nghỉ ngơi, ở trong buồng tối.
 
- Đau đầu do căng thẳng: xoa bóp, chườm nóng.
 
- Đau đầu chuỗi: ấn trên chỗ đau, chườm nóng trên chỗ đau, đi lại, vận động sẽ làm dịu đau.
 
Tiền sử gia đình:
 
- Migraine và đau đầu do căng thẳng: có tiền sử gia đình.
 
Khám bệnh nhân đau đầu
 
Triệu chứng đau đầu là cảm giác chủ quan và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau cho nên việc thăm khám bệnh nhân đau đầu không phải để khẳng định triệu chứng đau và các tính chất của nó. Khám bệnh nhân đau đầu nhằm mục đích phát hiện các triệu chứng kèm theo, tránh bỏ sót triệu chứng của những bệnh thực thể và để tìm nguyên nhân đau đầu.
 
Việc khám bệnh phải được tiến hành toàn diện, đầy đủ và kỹ càng. Các cơ quan; sọ, cột sống cổ, các đôi dây thần kinh sọ não, điểm xuất chiếu của các dây thần kinh vùng sọ mặt, các động mạch lớn cần được quan tâm khám kỹ.
 
Cận lâm sàng
 
Các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng nói chung không cho thấy những thay đổi đặc hiệu đối với các chứng đau đầu nguyên phát (như  Migraine, đau đầu chuỗi, đau đầu do căng thẳng…), đối với đau đầu triệu chứng chúng có vai trò trong việc phát hiện ra nguyên nhân.
 
Điện não đồ có thể phát hiện được chứng đau đầu do động kinh cục bộ cảm giác.

Phòng ngừa:

Tránh lạm dụng thuốc. Uống thuốc nhức đầu, kể cả thuốc mua không cần đơn, hơn 2 lần/tuần có thể thực sự làm tăng mức độ và tần số nhức đầu. Nếu đang uống thuốc quá thường xuyên, quan trọng là phải tham khảo ý kiến bác sĩ về cách tốt nhất để thoát ra khỏi thuốc vì có thể có tác dụng phụ nếu được thực hiện không đúng.
 
- Ngủ đủ giấc. Các nhu cầu dành cho người lớn trung bình 6-8 giờ ngủ một đêm. Tốt nhất đi ngủ và thức dậy vào giờ nhất định.
 
- Không được bỏ bữa. Bắt đầu ngày mới với một bữa ăn sáng khỏe mạnh. Ăn trưa và ăn tối tại cùng thời gian mỗi ngày. 
Tránh bất kỳ thức ăn hay thức uống, như có chứa caffeine, mà dường như gây ra nhức đầu.
 
- Tập thể dục thường xuyên. Thường xuyên hoạt động thể chất có thể cải thiện thể chất và tinh thần. Tập thể dục cũng giúp làm giảm căng thẳng. Tham khảo bác sĩ để chọn hoạt động chẳng hạn như đi bộ, bơi lội hoặc đi xe đạp. Để tránh thương tích, bắt đầu từ từ.
 
- Giảm căng thẳng. Stress là phổ biến nhất gây ra nhức đầu kinh niên. Hãy đơn giản hóa lịch biểu, kế hoạch... Hầu hết đau đầu do căng thẳng cũng hết khi kết thúc thời kỳ căng thẳng.
- Thư giãn. Hãy thử yoga, thiền hoặc các bài tập thư giãn. Dành thời gian để nghe nhạc, đọc một cuốn sách hoặc đi tắm nước nóng.
 
- Giảm caffeine. Trong khi một số loại thuốc nhức đầu gồm có caffeine vì nó có thể có lợi trong việc giảm đau nhức đầu, nó cũng có thể làm nặng thêm nhức đầu. Cố gắng giảm thiểu, hoặc loại bỏ cafein từ chế độ ăn uống.

Điều trị:

Điều trị phòng ngừa trước khi cơn đau xảy ra, những thuốc thường dùng là thuốc chống trầm cảm, chất chẹn beta, thuốc chống động kinh, thuốc giãn cơ, thuốc chống viêm phi steroid và một số loại thuốc khác.
 
- Các biện pháp điều trị khác như châm cứu, bấm huyệt, thôi miên, thiền, xoa bóp, thuốc thảo dược, bổ sung vitamin và muối khoáng...

Biến chứng:

Nguy cơ từ rối loạn giấc ngủ
 
Mất ngủ kéo dài làm giảm trí nhớ, khó tập trung chú ý, giảm sút khả năng lao động và hậu quả tất yếu là giảm tính tích cực trong cuộc sống.
 
Mất ngủ còn có nguy cơ phát sinh một số bệnh hoặc làm nặng thêm bệnh đang mắc.
 
Nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm hội chứng ngưng thở lúc ngủ sẽ góp phần làm ảnh hưởng đến bệnh tim mạch như tăng huyết áp, suy tim, thiếu máu cơ tim, rối loạn nhịp tim, đột tử trong đêm, tai biến mạch máu não…

Chế độ chăm sóc:

Các biện pháp giúp cải thiện giấc ngủ
 
Nên tập thói quen ngủ và thức vào một thời điểm nhất định trong đêm;
 
Không nên ngủ buổi trưa quá dài (trung bình 15 - 30 phút là đủ);
 
Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng (không có quá nhiều đồ vật, sách vở…), ánh sáng phù hợp (không quá sáng);
 
Không ăn quá no hoặc ngược lại bị quá đói sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ;
 
Tránh uống trà, cà phê đậm đặc vài giờ trước khi ngủ;
 
Tập thở sâu, đặc biệt thở cơ hoành (thở vào sâu, bụng di động theo nhịp thở trong khi hạn chế cử động của lồng ngực: Vai không nhấc lên, cơ cổ, cơ ngực không co kéo mạnh);
 
Tập thư giãn (nằm thả lỏng các cơ từ mặt, cổ, ngực, bụng, tay, chân), không nghĩ ngợi miên man.
 
Tập trung tư tưởng theo dõi vào động tác hít vào thở ra đều đặn. Thực hiện tốt thư giãn, giấc ngủ sẽ dễ dàng có chất lượng;
 
Day ấn một số huyệt có tác dụng dịu sự căng thẳng và an thần như: Huyệt ấn đường (điểm giữa hai đầu trong chân mày), huyệt an miên (điểm sau trái tai khoảng 1,5cm), huyệt nội quan (điểm giữa hai gân cơ trên nếp gấp cổ tay khoảng 3cm).
 
Xoa nóng bàn chân cả mặt lòng và mặt lưng, hoặc ngâm bàn chân trong nước ấm khoảng 50 độ C.
 
Ngoài ra có thể dùng một số dược liệu có tác dụng trấn tĩnh, giúp dễ ngủ như rau rút (rau rút non được sử dụng nấu canh với cá, thịt, tôm...); Củ sen, hạt sen, tâm sen, củ súng (có lợi cho người suy nhược tâm - thần kinh, rối loạn giấc ngủ); Nhãn nhục (nấu nước hoặc kết hợp hạt sen, táo nấu chè giúp dễ ngủ); Lá vông nem, ăn hoặc uống nước ép quả cà chua, càrốt, quả bơ, trái khóm, chuối… vì có chứa nhiều vitamin B2, B3, B6, C… giúp cơ thể tạo được chất serotonin, một loại hormone giúp ngủ ngon.

Bài thuốc dân gian: