Trầm cảm

14/11/2016 09:47:36
Bệnh trầm cảm không có miễn trừ với bất cứ ai, có thể gặp ở trẻ em, vị thành niên, người trưởng thành, phụ nữ sau đẻ và cả người có tuổi.
Bệnh trầm cảm không có miễn trừ với bất cứ ai, có thể gặp ở trẻ em, vị thành niên, người trưởng thành, phụ nữ sau đẻ và cả người có tuổi.
 
Trầm cảm là cảm giác buồn sâu sắc, có thể xảy ra sau một chuyện buồn hay do các sự cố không vui nhưng mức độ buồn và kéo dài quá mức thông thường, không tương ứng với sự cố.
 

Nguyên nhân:

Các nguyên nhân gây trầm cảm có thể xếp vào 3 nhóm chính:
 
+ Trầm cảm nội sinh (còn gọi là trầm cảm chưa rõ nguyên nhân): Có nhiều giả thuyết cho là do di truyền, miễn dịch, môi trường sống và yếu tố xã hội... nhưng chưa có giả thuyết nào có tính thuyết phục.
 
+ Trầm cảm do stress: Chẳng hạn như khi mất việc làm, mâu thuẫn trong gia đình, con cái hư hỏng, bị trù dập ở nơi làm việc, làm ăn thua lỗ, bị phá sản hoặc có người thân chết đột ngột...
 
+ Trầm cảm do các bệnh thực tổn:
 
Các rối loạn nội tiết:
  
    - Giảm năng tuyến giáp (hypothyroidism)
  
    - Bệnh đái đường
 
     - Hội chứng Cushing
 
Các rối loạn thần kinh:
  
    - Các tai biến mạch máu não
 
    - Khối máu tụ dưới màng cứng (subdural hematoma)
 
    - Bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis)
 
    - U não
 
    - Bệnh Parkinson
 
    - Bệnh co giật
 
    - Sa sút trí tuệ (dementia)
 
Bệnh trầm cảm được xếp loại thành nguyên phát nếu như các triệu chứng xuất hiện trước và không liên hệ với bất cứ một bệnh nội khoa hoặc tâm thần có ý nghĩa nào khác. Được coi là thứ phát khi bệnh trầm cảm xảy ra sau và có liên hệ với một bệnh nội khoa hoặc tâm thần khác.

Các yếu tố, nguy cơ:

Một số loại thực phẩm làm tăng nguy cơ gây bệnh trầm cảm.
 
1. Cà phê
 
Nhiều người đã quá quen thuộc với loại đồ uống này. Nếu uống cà phê mỗi ngày vào buổi sáng sẽ giúp tinh thần sảng khoái, cuộc sống vui vẻ và năng động hơn. Tuy nhiên, nếu bạn dùng nó theo một cách cực đoan thì sẽ rất nguy hiểm đến hệ thần kinh. Vô hình dung bạn đã tự coi mình là một tín đồ, phải phụ thuộc vào cà phê và nó đối với bạn như là một loại doping.
 
Nếu bạn không được uống 1 tách cà phê bạn sẽ thấy mình mệt mỏi, thờ ơ. Trong khi đó, không phải lúc nào bạn cũng có thời gian để uống cà phê hoặc sức khỏe không cho phép vì nó sẽ có hại cho tim và kích thích áp lực gia tăng. Các bác sĩ khuyên chúng ta vì sức khỏe không nên uống quá 2 ly cà phê mỗi ngày và không nên uống 2 ly trong cùng một thời điểm.
 
2. Đồ ngọt
 
Do ăn uống quá nhiều và không khoa học nên nhiều trẻ em mắc bệnh béo phì. Trong khi đó, cơ thể của trẻ em lại không tạo ra được nhiều insulin cần thiết để xử lý đường như người trưởng thành. Vì vậy, hạn chế việc trẻ em dùng quá nhiều đồ ngọt sẽ tốt hơn và làm cho tinh thần của chúng phấn chấn hơn.
 
Cũng có thể tâm trạng được cải thiện nhưng sau đó lại giảm đi đó là do lượng đường dư thừa trong máu dẫn đến một tâm trạng xấu. Và nếu bạn là một fan hâm mộ của đồ ngọt, bạn sẽ luôn cảm thấy chán nản và có thể kích thích một trạng thái trầm cảm.
 
3. Thịt đỏ
 
Các loại thịt bò, thịt cừu khi ăn vào cơ thể, quá trình hấp thụ dinh dưỡng từ các loại thịt này rất chậm. Vì vậy, trong quá trình phân hủy thức ăn trong ruột sẽ sản sinh ra các chất độc hại sau đó hấp thu vào máu làm ảnh hưởng đến hệ thần kinh. Bạn thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, khó chịu thậm chí hôn mê do sử dụng nhiều các loại thịt này cho cả bữa sáng, trưa và bữa tối.
 
Bạn thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, khó chịu, thậm chí hôn mê do sử dụng nhiều các loại thịt này cho cả bữa sáng, trưa và bữa tối.
 
Chế độ ăn uống khoa học là rất cần thiết để giúp cho tâm trạng tốt hơn. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên chúng ta loại 'huốc chống trầm cảm' tốt nhất là các loại trái cây và rau củ có màu đỏ, vàng, cam.
 
Chúng ta sẽ thấy điều này ở các loại rau quả như: cam, quýt, dứa, ớt, cà rốt, ngô và bí ngô… Các loại thực phẩm này không giúp bạn lấy lại năng lượng nhiều nhưng có thể sản sinh ra hormon “niềm vui” hạn chế việc xuất hiện bệnh trầm cảm.
 
4. Chất béo bão hòa
 
Nghiên cứu cho thấy, chất béo bão hòa không chỉ làm tăng mức cholesterol trong máu mà còn thúc đẩy cơ thể sản xuất ra hormon cortisol, vốn là tác nhân gây trầm cảm.
 
5. Đường tinh luyện
 
Tất cả các loại đường, đặc biệt là đường tinh luyện, khiến mức đường huyết gia tăng một cách đáng kể nếu bạn tiêu thụ nhiều. Nhất là đối với những người thường xuyên ăn nhiều đường, cơ thể của họ sẽ dễ trở nên nghiện và tăng tiết hormone cortisol, làm gia tăng mức độ trầm cảm.
 
6. Các loại thực phẩm ít chất xơ
 
Theo các chuyên gia, khi ăn những loại thực phẩm ít chất xơ sẽ khiến bạn mau có cảm giác đói, dễ trở nên nhạy cảm trước các vấn đề xảy ra trong cuộc sống và tâm lý hay gắt gỏng. Ngoài ra, khi bạn tiêu thụ nhiều các loại thực phẩm này còn gây khó khăn cho quá trình tiêu hóa.
 
7. Rượu
 
Giới chuyên môn cho biết, rượu là một độc tố đối với gan, vì cơ thể không thể chuyển hóa một số hợp chất chứa trong đó. Kết quả là các cơ quan trong cơ thể dễ trở nên căng thẳng và tăng tiết hormon cortisol, làm gia tăng mức trầm cảm.
 
8. Bột mì tinh chế
 
Tương tự như đường tinh luyện, bạn cũng cần hạn chế tiêu thụ các loại thực phẩm được chế biến từ bột mì tinh chế. Cách tốt nhất là bạn hãy chọn các loại ngũ cốc nguyên hạt, vì chúng được đánh giá là lành mạnh và không gây trầm cảm.

Triệu chứng, biểu hiện:

Có rất nhiều triệu chứng của bệnh trầm cảm:
 
- Mất ngủ: Là triệu chứng hay gặp nhất. Bệnh nhân có thể mất ngủ đầu giấc (khó vào giấc ngủ), giữa giấc (đang ngủ tỉnh dậy, sau đó rất khó ngủ lại) và cuối giấc (thức giấc sớm, không ngủ lại được).
 
Nếu bệnh nhân thức giấc sớm hơn thường lệ trên 2 giờ thì coi là mất ngủ. Chẳng hạn bình thường bệnh nhân thức dậy lúc 5 giờ sáng, bây giờ bệnh nhân thức giấc lúc 2 giờ sáng mà không sao ngủ lại được. Nếu nặng sẽ gây ra mất ngủ toàn bộ.
 
- Mệt mỏi: Bệnh nhân thường cảm thấy rất mệt mỏi, uể oải, đặc biệt là về buổi sáng. Buổi chiều cảm giác mệt mỏi có giảm đi nhưng vẫn còn rất rõ rệt. Chính mệt mỏi là nguyên nhân gây giảm sút khả năng học tập ở bệnh nhân.
 
- Chán ăn: Ăn mất ngon, vì vậy bệnh nhân ăn ít, từ đó dẫn đến gầy sút, bệnh nhân không muốn ăn, không có cảm giác thèm ăn. Thông thường, bệnh nhân có thể sút một vài kg mỗi tháng, có những bệnh nhân khi đến khám bác sĩ tâm thần thì đã sút hơn 10kg.
 
- Mất mọi quan tâm, thích thú trong sinh hoạt, công việc hoặc giải trí: Các sở thích trước đây của bệnh nhân đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chẳng hạn trước đây bệnh nhân thích bóng đá thì giờ chẳng quan tâm đến bóng đá nữa.
 
- Cảm giác buồn rầu, hoặc bực bội, khó chịu: Nét mặt bệnh nhân luôn rầu rĩ. Bệnh nhân luôn có cảm giác buồn bã với tất cả mọi việc mà không có cách nào làm bệnh nhân vui lên được. Bệnh nhân luôn cáu gắt với mọi người vì những lý do không đâu.
 
- Ý nghĩ chán nản, buông xuôi: Bệnh nhân chán mọi thứ, cho mình là vô dụng, vì vậy muốn buông xuôi mọi việc. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả học tập của bệnh nhân. Nhiều gia đình than phiền rằng bệnh nhân chán nản, muốn bỏ học không lý do, mặc dù trước đó bệnh nhân là một sinh viên rất chăm chỉ, học giỏi bỏ học không lý do.
 
- Khó khăn khi tập trung vào một việc gì đó: Như đọc sách, nghe giảng, xem ti-vi... Bệnh nhân không thể tập trung chú ý vào một việc cụ thể, do đó không thể ghi nhớ được, có bệnh nhân nói rằng đang đọc một đoạn sách mà không sao tập trung chú ý được. Do đó không thể nhớ được mình vừa đọc cái gì. Vì vậy, kết quả học tập giảm sút rõ rệt, có những bệnh nhân thi trượt tất cả các môn mặc dù học kỳ trước còn là học sinh giỏi.
 
- Cảm giác bứt rứt, buồn nôn, lo lắng vô cớ: Bệnh nhân khó có thể ngồi yên một chỗ được một lúc. Họ luôn trong tâm trạng lo lắng vô cớ với những lý do không đâu.
 
- Thường xuyên có các rối loạn: Như đau đầu, đau bụng, đau ngực, đánh trống ngực, đau cơ, ra nhiều mồ hôi..., vì vậy bệnh nhân thường được đưa đi khám ở bác sĩ thần kinh (đau đầu), tim mạch (đánh trống ngực), tiêu hóa (đau bụng)... nhưng tất cả các khám xét trên đều không chỉ ra một bệnh cụ thể nào. Cũng chính vì đi khám và điều trị nhiều nơi không phải chuyên khoa tâm thần nên bệnh nhân thường đến khám bác sĩ tâm thần ở giai đoạn muộn, khi bệnh đã trở thành mạn tính, vì vậy việc điều trị khó khăn và kéo dài hơn.
 
- Bệnh nhân từng có ý định muốn chết hoặc có hành vi tự sát: Chính do các triệu chứng kể trên, bệnh nhân bi quan, chán nản, muốn chết đi cho nhẹ gánh. Do vậy nhiều bệnh nhân có kế hoạch tự tử rõ ràng. Họ thường tìm cách mua thuốc gây độc. Chúng ta không được coi thường triệu chứng này vì bệnh nhân có thể chết do tự tử.
 
Khi có ý định hoặc hành vi tự sát, bệnh nhân cần được điều trị nội trú tại khoa tâm thần càng sớm càng tốt. Các bậc phụ huynh thường nhận thấy con em mình mất ngủ, kém ăn, gầy sút, học hành sút kém rõ rệt, khi đó nên đưa bệnh nhân đi khám tại bác sĩ tâm thần để phát hiện và điều trị sớm trầm cảm.

Chẩn đoán bệnh:

Trầm cảm là phổ biến, một số bác sĩ có thể đặt câu hỏi về tâm trạng và suy nghĩ trong thời gian thăm khám. Họ thậm chí có thể yêu cầu điền vào một bảng câu hỏi ngắn để giúp kiểm tra các triệu chứng trầm cảm.
 
Khi các bác sĩ nghi ngờ có ai đó đã trầm cảm, họ thường hỏi một số câu hỏi và có thể làm các xét nghiệm y khoa và tâm lý. Đây có thể giúp loại trừ các vấn đề khác mà có thể được gây ra các triệu chứng, xác định chẩn đoán và cũng có thể kiểm tra có biến chứng liên quan.
 
Khám và các xét nghiệm thường bao gồm:
 
- Khám lâm sàng. Điều này có thể bao gồm đo chiều cao và cân nặng, kiểm tra dấu hiệu quan trọng như nhịp tim, huyết áp và nhiệt độ, nghe tim và phổi và kiểm tra bụng.
 
Phòng thí nghiệm. Bác sĩ có thể làm một xét nghiệm máu được gọi là máu toàn phần (CBC), hoặc kiểm tra tuyến giáp để chắc chắn rằng nó hoạt động tốt.
 
- Đánh giá tâm lý. Để kiểm tra các dấu hiệu trầm cảm, bác sĩ hoặc nhà cung cấp sức khỏe tâm thần sẽ nói chuyện với bệnh nhân về suy nghĩ, cảm xúc và các mẫu hành vi. Bác sĩ sẽ hỏi về triệu chứng hiện tại, và những tương tự trong quá khứ. Cũng sẽ thảo luận về bất kỳ suy nghĩ có thể tự tử hoặc gây tổn hại cho bản thân.
 
Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm
 
Để được chẩn đoán là trầm cảm, phải đáp ứng các tiêu chí triệu chứng nêu ra trong chẩn đoán và thống kê Manual of Mental Disorders (DSM). Thống kê này được công bố bởi Hiệp hội Tâm thần Mỹ và được sử dụng bởi các nhà cung cấp sức khỏe tâm thần để chẩn đoán các trạng thái tinh thần.
 
Để được chẩn đoán là trầm cảm phải có năm hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau đây trong khoảng thời gian hai tuần. Ít nhất một trong các triệu chứng phải là một tâm trạng chán nản, thất thoát một quan tâm hay niềm vui. Các triệu chứng có thể dựa vào cảm xúc của riêng bản thân hoặc có thể dựa trên các quan sát của người khác. Chúng bao gồm:
 
- Suy yếu tâm trạng nhất trong ngày, gần như mọi ngày, chẳng hạn như cảm thấy buồn, trống rỗng hoặc rơi lệ (ở trẻ em và thanh thiếu niên, tâm trạng chán nản có thể xuất hiện như là khó chịu liên tục).
 
- Giảm hoặc cảm thấy không có niềm vui trong tất cả hoặc gần như tất cả các hoạt động trong ngày, gần như mỗi ngày.
 
- Giảm cân đáng kể khi không ăn kiêng, tăng cân, hoặc giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng gần như mỗi ngày (ở trẻ em, không đạt được trọng lượng như mong đợi có thể là một dấu hiệu của trầm cảm).
 
- Mất ngủ hoặc làm tăng ham muốn ngủ gần như mỗi ngày.
 
- Bồn chồn hoặc làm chậm lại hành vi có thể được quan sát bởi những người khác.
 
- Mệt mỏi hay mất năng lượng gần như mỗi ngày.
 
- Cảm xúc của vô dụng hoặc quá nhiều tội lỗi không thích hợp hoặc gần như mỗi ngày.
 
- Vấn đề ra quyết định hoặc khó tập trung suy nghĩ gần như mỗi ngày.
 
- Thường xuyên suy nghĩ về cái chết hoặc tự tử, hoặc cố gắng tự tử.
 
Để được coi là trầm cảm lớn:
 
Triệu chứng không phải do một tập hỗn hợp đồng thời cơn hưng cảm và trầm cảm có thể xảy ra trong rối loạn lưỡng cực.
 
Các triệu chứng phải nghiêm trọng đủ để gây ra vấn đề đáng chú ý trong các hoạt động hàng ngày, ví dụ như công việc, trường học, hoạt động xã hội hoặc các mối quan hệ với những người khác.
 
Các triệu chứng không phải là do ảnh hưởng trực tiếp của cái gì khác, chẳng hạn như lạm dụng ma túy, dùng thuốc hoặc có một điều kiện y tế như suy giáp.
 
Các triệu chứng không được gây ra bởi đau buồn, như nỗi buồn tạm thời sau khi mất một người thân yêu.
 
Các điều kiện khác gây ra các triệu chứng trầm cảm
 
Có một số điều kiện khác với các triệu chứng có thể trầm cảm. Điều quan trọng để có được một chẩn đoán chính xác có thể có được điều trị thích hợp cho điều kiện cụ thể. Bác sĩ đánh giá sức khỏe tâm thần sẽ giúp xác định xem các triệu chứng của trầm cảm là do một trong các điều kiện sau đây:
 
- Rối loạn điều chỉnh. Rối loạn điều chỉnh là một phản ứng cảm xúc nghiêm trọng đến một sự kiện khó khăn trong cuộc sống. Đó là một loại bệnh tâm thần căng thẳng liên quan có thể ảnh hưởng đến cảm xúc, suy nghĩ và hành vi.
 
- Rối loạn lưỡng cực. Loại trầm cảm được đặc trưng bởi tính khí thất thường từ mức cao tới thấp. Đó là đôi khi rất khó để phân biệt giữa các rối loạn lưỡng cực và trầm cảm, nhưng điều quan trọng để có được một chẩn đoán chính xác để có thể có được điều trị đúng.
 
- Cyclothymia. Cyclothymia hoặc cyclothymic rối loạn là một dạng nhẹ hơn của chứng rối loạn lưỡng cực.
 
- Dysthymia. Dysthymia là một hình thức ít nghiêm trọng nhưng trầm cảm mãn tính. Trong khi đó thường không được vô hiệu hoá, dysthymia có thể khiến không hoạt động bình thường trong thói quen hàng ngày và để phát huy tối đa từ cuộc sống của mình.
 
- Trầm cảm sau sinh. Đây là một dạng phổ biến của trầm cảm xảy ra ở các bà mẹ mới. Nó thường bắt đầu 4 - 8 tuần sau khi sinh và có thể kéo dài nhiều tháng.
 
- Trầm cảm tinh thần. Đây là trầm cảm nặng kèm theo các triệu chứng tâm thần như ảo tưởng hoặc ảo giác.
 
- Rối loạn Schizoaffective. Schizoaffective là một tình trạng mà trong đó một người đáp ứng các tiêu chí cho cả tâm thần phân liệt và rối loạn tâm trạng.
 
- Trầm cảm theo mùa. Loại trầm cảm có liên quan đến thay đổi trong mùa và tiếp xúc ánh sáng mặt trời giảm.

Phòng ngừa:

Bệnh trầm cảm không phải lúc nào cũng phải được trị bằng thuốc men. Ta có thể thay đổi cuộc sống và lối suy suy nghĩ để tránh bệnh trầm cảm trở thành nặng. Một số người khi thay đổi cách suy nghĩ và lối sống thì căng thẳng (stress) giảm đáng kể, từ đó mà các triệu chứng trầm cảm bớt đi và có thể hết.
 
Thí dụ như giảm công việc lại, làm ít giờ hơn, có nhiều thời gian sinh hoạt với gia đình, dành nhiều thời giờ đối thoại với người phối ngẫu để san bằng cái hố hiểu lầm.
 
Nếu là sinh viên thì giảm số giờ học lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và ăn ngủ điều độ.
 
Tránh lạm dụng cà phê hay rượu chè.
 
Tập thể dục thể thao cũng có khả năng làm giảm trầm cảm. Tập thể thao thường xuyên sẽ làm tăng chất BDNF, giúp những tế bào thần kinh sống lâu hơn.

Điều trị:

Để trị được bệnh trầm cảm, cần thực hiện những việc sau:
 
Tránh cảm giác chán đời, nên cố gắng đừng để cho mình quá rảnh rỗi; nên tạo cơ hội cho mình bận rộn bằng việc gia chánh, thêm việc ở cơ quan hoặc học thêm…
 
Cũng rất nên đi chơi, giải trí với loại hình nghệ thuật mà mình yêu thích.
 
Đừng bỏ qua cơ hội, và hơn hết là nên cố gắng thu xếp tham gia những hoạt động tập thể ở cơ quan để tiếp xúc với đồng nghiệp, tạo niềm vui mới… Trong sinh hoạt cộng đồng, bạn sẽ thấy mình có ích cho người khác, được mọi người quý mến.
 
Trầm cảm nếu được chữa trị sớm và đúng cách thì tỉ lệ bệnh ổn định khá cao (70 - 80%). Trầm cảm không thể chữa khỏi chỉ bằng tập thể dục, thay đổi chế độ ăn hay đi nghỉ ngơi, thư giãn, mà phải kết hợp với việc điều trị bằng thuốc chống trầm cảm phối hợp với tâm lí liệu pháp.

Biến chứng:

Hậu quả của trầm cảm nếu không được điều trị:
 
- Có ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống.
 
- Stress kéo dài gây tổn thương cho nhiều cơ quan, kể cả tim.
 
- Tuổi thọ có thể giảm, trong một thời gian nhất định, số tử vong ở người trầm cảm gấp đôi so với người không bị trầm cảm.
 
- Tỷ lệ ly hôn, tự tử và có hành vi liều lĩnh cũng tăng…
 
- Trong công việc, trầm cảm làm cho nam giới làm việc kém năng suất, hạn chế khả năng và có nguy cơ mất việc.

Chế độ chăm sóc:

Việc điều trị trầm cảm phải kéo dài ít nhất 6-9 tháng nên giai đoạn chăm sóc tại nhà rất quan trọng. Người trong gia đình cần theo dõi chặt chẽ để phát hiện các hành vi gây nguy hiểm của bệnh nhân (như tự sát) nhưng phải rất tế nhị, tránh kỳ thị, xem thường.
 
Nếu không được phát hiện và chẩn đoán sớm, trầm cảm thường kéo dài và có nhiều biến chứng, đặc biệt là các ý tưởng và hành vi tự sát. Cần điều trị tại bệnh viện với các trường hợp nặng (có triệu chứng loạn thần, có ý tưởng và/hoặc hành vi tự sát, từ chối ăn uống). Các trường hợp nhẹ hoặc đã ổn định sẽ được điều trị ngoại trú. Việc chăm sóc tại nhà có ý nghĩa rất quan trọng, tạo điều kiện cho bệnh nhân dễ dàng tái hòa nhập cộng đồng và phục hồi chức năng tâm lý xã hội.
 
Cần cho bệnh nhân uống thuốc đều đặn theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa tâm thần. Không tự ý dừng hoặc điều chỉnh liều thuốc khi không có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.
 
Theo dõi các triệu chứng tâm thần bằng cách trả lời các câu hỏi: Giấc ngủ, ăn uống của bệnh nhân như thế nào? Đỡ buồn chán không? Có bi quan chán nản không? Đã quan tâm đến thú vui sở thích trước kia chưa? Tập trung chú ý khi nói chuyện như thế nào? Có chủ động nói chuyện, trình bày những vấn đề về sức khỏe của bản thân không? Đã quan tâm đến các hoạt động nghề nghiệp chưa? Tham gia các hoạt động xã hội?
 
Theo dõi ý tưởng và hành vi tự sát vì đây là triệu chứng nặng của bệnh. Thông thường, bệnh nhân trầm cảm có ý tưởng bị tội, không xứng đáng, quá bi quan chán nản, cảm thấy bế tắc, không có lối thoát... nên dễ nảy ra ý tưởng và hành vi tự sát.
 
Phải luôn theo dõi và kịp thời phát hiện bằng cách nói chuyện và tế nhị hỏi về những ý nghĩ này, lưu ý đến những hành vi khác thường như viết thư tuyệt mệnh, gọi điện thoại, nhắc đến tự sát trong những câu chuyện hằng ngày... Khi phát hiện ý tưởng hoặc hành vi tự sát, cần theo dõi chặt và đưa đến bệnh viện ngay.
 
Thông thường, các thuốc chống trầm cảm khi đã được bác sĩ chỉ định cho điều trị ngoại trú sẽ ít tác dụng phụ. Tuy nhiên, bệnh nhân có thể bị khô miệng, táo bón, bí tiểu hoặc ngủ quá nhiều. Vì vậy, người nhà cần theo dõi tác tác dụng phụ của thuốc. Khi có các triệu chứng trên, cần thông báo cho bác sĩ biết để kịp thời điều chỉnh.
 
Cần bảo đảm chế độ dinh dưỡng đầy đủ cho bệnh nhân; không cần kiêng bất cứ chất gì. Trong trường hợp sử dụng một số thuốc chống trầm cảm hoặc có bệnh cơ thể kèm theo, bệnh nhân có thể phải kiêng một số thức ăn theo hướng dẫn của thày thuốc.
 
Người nhà phải luôn có tinh thần thông cảm, chia sẻ, động viên và giúp đỡ bệnh nhân trầm cảm trong cuộc sống hằng ngày. Tránh những thái độ không thiện chí, kỳ thị và coi thường bệnh nhân; luôn tạo mọi điều kiện cho bệnh nhân được làm việc, được bày tỏ ý kiến của mình.
 
Đưa bệnh nhân đến bệnh viện hoặc phòng khám theo hẹn của bác sĩ điều trị. Thông thường, bệnh nhân trầm cảm cần khám định kỳ hằng tháng, hằng quý... tùy theo tình trạng ổn định của bệnh.

Bài thuốc dân gian: