Điếc

14/11/2016 09:47:35
Người điếc là người không có khả năng nghe như người có sức nghe bình thường.
1. Thế nào là điếc ?
 
- Người điếc là người không có khả năng nghe như người có sức nghe bình thường.
 
- Có nhiều mức độ điếc khác nhau.
 
- Nghe bình thường: có thể nghe được cả lời nói thầm.
 
-  Điếc nhẹ: chỉ nghe được lời nói bình thường khi đứng cách 1 mét.
 
-  Điếc trung bình: Chỉ có thể nghe nói lớn khi đứng cách 1 mét.
 
-  Điếc nặng: chỉ có thể nghe khi được hét sát vào tai.
 
- Điếc sâu (rất nặng): Không nghe được cả những từ hét sát tai.
 
2. Điếc mức độ nào được coi là tàn tật ?
 
Người lớn: khi chỉ nghe được tiếng nói lớn hoặc các từ thét lên.
 
Trẻ em: Khó khăn nghe khi giao tiếp bình thường.
 
Vì sao mức độ điếc được coi là tàn tật của trẻ em so với người lớn lại nhẹ hơn? vì trẻ em cần nghe tốt để học nói và phát triển ngôn ngữ.
 
3. Phân loại
 
Điếc dẫn truyền:
 
- Nguyên nhân: bệnh tích nằm ở tai ngoài và tai giữa, ngăn cản đường truyền của âm thanh đến tai trong như nút ráy tai, viêm tai giữa,
 
- Mức độ điếc: từ nhẹ đến vừa, có thể điếc tới 60-70 dB.
 
- Một số trường hợp có thể chỉ bị điếc tạm thời.
 
- Điều trị: Nhiều trường hợp tùy theo nguyên nhân, có thể bằng thuốc hay phẫu thuật. Máy nghe đối với dạng điếc này rất tốt.
 
Điếc tiếp nhận ốc tai:
 
- Nguyên nhân: bệnh tích nằm ở tai trong làm âm thanh truyền đến tai trong không biến đổi được thành các xung điện ví dụ như điếc già (lão thính), điếc nghề nghiệp (các tế bào của ốc tai bị hư hại do tiếng ồn), điếc do nhiễm khuẩn hoặc virus (quai bị, viêm màng não, giang mai…)
 
- Mức độ điếc: nhẹ, vừa, nặng, sâu, thậm chí điếc hoàn toàn.
 
- Thường là điếc vĩnh viễn.
 
- Điều trị: Tùy theo nguyên nhân, một số trường hợp có thể điều trị thuốc. Giải phẫu không tác dụng. Máy nghe có thể giúp trong các trường hợp điếc nhẹ đến nặng. Cấy điện ốc tai rất tốt trong các trường hợp điếc nặng và sâu.
 
Điếc thần kinh sau ốc tai: rất hiếm
 
- Nguyên nhân: dây thần kinh thính giác không có hoặc bị hư hại vì thế tín hiệu không thể đưa lên não (u dây thần kinh thính giác), tổn thương ở thân não (tắc mạch, u, nhiễm khuẩn, xơ cứng rải rác), tổn thương ở vỏ não (viêm não, viêm màng não, chấn thương, xuất huyết, tắc mạch, u, thiếu máu…).
 
- Máy nghe: có tác dụng rất ít.
 
- Cấy điện ốc tai: không ích lợi gì.
 
- Cấy điện thân não: có thể giúp ở vài trường hợp.
 
Điếc hỗn hợp: thường hay gặp
 
- Nguyên nhân: có thương tổn tai ngoài, hoặc tai giữa, hoặc cả tai ngoài và tai giữa với thương tổn tai trong.
 
- Đặc điểm: có cả đặc điểm của điếc dẫn truyền lẫn đặc điểm của điếc thần kinh ốc tai..
 

Nguyên nhân:

1. Các nguyên nhân trước và trong sinh
 
- Di truyền: điếc truyền lại trong dòng họ và gia đình.
 
* Trong thời gian mang thai:
 
- Mẹ bị bệnh: sởi hoặc các bệnh virút khác.
 
- Mẹ dùng thuốc có hại cho tai: quinin, streptomycin,
 
- Bệnh truyền qua đường sinh dục: giang mai.
 
* Trong sinh và ngay sau sinh:
 
- Sinh non, thiếu tháng
 
Sinh khó: hút, mổ
 
Sau sinh: ngạt, vàng da
 
2. Các nguyên nhân sau sinh
 
- Bệnh trẻ em: Sởi, quai bị, viêm màng não
 
- Nhiễm trùng tai: Viêm tai ngoài, viêm tai giữa, nhiễm trùng tai trong
 
- Thuốc có thể gây ngộ độc tai: Thuốc kháng sinh: streptomycin, gentamycin
 
- Thuốc chống sốt rét: Kinin, chloroquin
 
- Tiếng ồn: Làm việc trong môi trường ồn liên tục, trong tiếng nhạc lớn, hoặc tiếp xúc các tiếng nổ lớn
 
- Tai nạn: Chấn thương đầu, chấn thương tai
 
- Tuổi già: Khi tuổi càng lớn, hệ thống thính giác cũng bị lão hóa và gây điếc
 
- Nút ráy tai: Cản trở đường truyền âm thanh có thể gây điếc ở bất cứ tuổi nào
 
- Tai có dịch: Viêm tai giữa thanh dịch là nguyên nhân thường gặp gây nghe kém ở trẻ em.

Các yếu tố, nguy cơ:

Các yếu tố có thể làm tổn thương hoặc dẫn tới mất các sợi lông chuyển và các tế bào thần kinh ở tai trong gồm:
 
* Tuổi
 
Sự hao mòn bình thường do âm thanh qua năm tháng có thể làm tổn thương các tế bào của tai trong.
 
* Tiếng ồn lớn
 
Tiếng ồn nghề nghiệp, như nghề xây dựng hoặc nhà máy, và tiếng ồn giải trí, như nghe nhạc to, động cơ của xe trượt tuyến hoặc xe máy, hoặc tiếng nổ hỏa khí, có thể góp phần gây tổn thương tai trong.
 
* Di truyền
 
Cấu tạo gen có thể làm cho bạn dễ bị tổn thương tai.
 
* Một số thuốc
 
Kháng sinh gentamicin có thể gây tổn thương tai trong. Ảnh hưởng tạm thời tới thính lực – như ù tai hoặc điếc – có thể xảy ra nếu bạn dùng aspirin liều rất cao.
 
* Một số bệnh
 
Những bệnh có sốt cao, như viêm màng não, có thể làm tổn thương ốc tai.

Triệu chứng, biểu hiện:

Các dấu hiệu và triệu chứng của giảm thính lực có thể gồm:
 
* Tính chất của tiếng nói và những âm thanh khác bị bóp nghẹt.
 
* Khó hiểu từ ngữ, nhất là ở chỗ ồn ào hoặc đông người.
 
* Đòi người khác phải nói chậm, rõ và to hơn.
 
* Cần vặn to âm thanh của ti vi hoặc đài.
 
* Không muốn giao tiếp.
 
* Lánh mặt khỏi một số dịp lễ Tết.

Chẩn đoán bệnh:

Tầm soát có thể thực hiện ở các trung tâm cảm giác và có thể thực hiện bằng nhiều cách. Các bảng câu hỏi có thể được đưa cho chính người bệnh hoặc người thân trong gia đình, những người hay tiếp xúc gần gũi. Thử xét nghiệm thì tốt hơn nhờ sử dụng các dụng cụ đã được định chuẩn.
 
Biết được các tính chất của điếc sẽ giúp hướng dẫn lượng giá và giúp bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị đúng hơn. Thính lực đồ nên được làm lúc khởi đầu, khi bệnh diễn tiến và cùng với mức độ trầm trọng của bệnh. Ù tai thường đi kèm với điếc do tuổi già. Điếc 1 bên, không đối xứng hoặc lúc có lúc không thì không phải là đặc điểm của điếc do tuổi già. Khám thực thể thì thường không phát hiện được gì, ngoại trừ khi ráy tai là nguyên nhân của điếc.
 
Khi có nghi ngờ bị điếc, phải đến khám chuyên khoa tai mũi họng. Để chẩn đoán, tối thiểu phải có khám lần sau, làm thính đồ toàn bộ bao gồm đánh giá âm đơn (tiếng động với tần số đơn được tạo ra bằng điện), lời nói và màng nhĩ. Các biểu hiện bất đối xứng của thính đồ hoặc các triệu chứng sau ốc tai nên được tiếp tục bởi các thử nghiệm phản ứng nghe của cuống não và chụp cắt lớp não để loại trừ các khối u thần kinh hoặc u góc cầu tiểu não.
 
Các test đo chức năng thính giác
 
- Weber test: Âm thoa 512 Hz đặt ở giữa đường ở trán. Người bình thường sẽ nhận được dao động đều nhau ở hai tai. Người bị điếc dẫn truyền sẽ nhận được dao động lớn hơn ở bên bị bệnh.
 
- Rinne test: Cần âm thoa đặt ở xương chũm và ấn đều; và sau đó âm thoa được đặt phía trước ống tai ngoài. Thông thường, âm dao động sẽ được nghe lớn hơn ở ống tai ngoài (không khí dẫn truyền âm thanh lớn hơn xương). Nếu ngược lại thì là điếc dẫn truyền.
 
- Thính đồ toàn bộ: Đánh giá âm đơn và người tiếp nhận lời nói và màng nhĩ đồ. Nguồn đối với âm đơn ở khoảng cách 1 hoặc 1/2 octave thì đạt được tần số từ 250 - 8000Hz. Các xét nghiệm được thực hiện bởi cả bằng dẫn truyền không khí hoặc dẫn truyền qua xương (đường âm thoa đặt ở xương chũm).
 
- Ngưỡng tiếp nhận ngôn ngữ: Được xác định như là mức độ mà người bệnh có thể nhận ra đúng 50 % các từ đôi có dấu nhấn tương đương (ví dụ cowboy). Người tiếp nhận lời nói nên ở khoảng 10 dB của trung bình âm đơn.
 
Nhận biết mức độ điếc của trẻ
 
Hiện nay, người ta sử dụng 2 phương pháp để đánh giá sức nghe: một bằng máy đo thính lực, hai bằng tiếng nói. Loại máy để kiểm tra độ điếc gọi là máy đo thính lực, có nhiều loại: đơn giản thì chỉ để khám tầm soát điếc; loại máy phức tạp không những xác định được mức độ điếc mà còn xác định các dạng điếc.
 
Do ở gia đình và hầu hết các cơ sở y tế tuyến phường xã không có máy đo thính lực, nên phải dùng giọng nói để phát hiện điếc. Cách làm như sau: đứng phía sau cách trẻ nghi ngờ bị điếc một cánh tay chếch về một bên; hướng dẫn trẻ dùng tay đè lên nắp tai bên kia; nói thầm nhiều từ, nếu trẻ nghe và nhắc lại đúng thì kết luận là tai đang thử nghe bình thường.
 
Đổi tai thử: nếu trẻ không nhắc lại được thì thử tiếp bằng cách nói nhiều từ với giọng bình thường (to hơn nói thầm), nếu trẻ nhắc lại đúng thì kết luận tai thử bị điếc nhẹ. Nếu trẻ không nhắc lại được thì thử tiếp bằng cách nói nhiều từ với giọng nói lớn; nếu trẻ nhắc lại đúng thì kết luận tai thử bị điếc trung bình.
 
Nếu trẻ không nhắc lại được tiếp tục thử bằng cách hét nhiều từ ở sát tai; nếu  trẻ nhắc lại đúng, tai đang thử bị  điếc nặng; đổi tai thử, nếu trẻ không nghe được tiếng hét lớn, thì bị điếc sâu hay còn gọi là điếc.
 
Thử thính lực ở trẻ sơ sinh: thực hiện tại một phòng yên tĩnh, khi bé vừa mới ngủ không quá 5 phút; nói  từng chữ cái: A, B, C, D, E cách tai thử của bé 50cm. Quan sát phản ứng của bé xem có chớp mắt, mở mắt, vặn mình, cử động chân tay thì kết luận bé nghe được, tai bé nghe bình thường.
 
Thử thính lực ở trẻ 1 - 3 tuổi: trong một phòng yên tĩnh, người thử đứng cách 1m phía sau lưng bé nhưng không được để bé biết, tạo ra tiếng động từ các dụng cụ thử: ly, thìa, trống, chuông; quan sát phản ứng của bé với tiếng động như: chớp mắt, lắng nghe, quay đầu về nơi phát ra tiếng động. Nếu có kết luận bé nghe được, nghĩa là bé nghe bình thường. 
 
Đánh giá thính lực trẻ 3 - 7 tuổi: phòng yên tĩnh, người thử ngồi đối diện với bé, nói  tên các hình trong một số tranh hình đơn giản để bé nghe và chỉ vào cho đến lúc bé hiểu cách thử. Sau đó người thử đứng phía sau nói thầm tên các hình, mỗi hình nói từ 2 - 3 lần cho đến lúc chắc chắn bé nghe được.
 
Đánh gíá bé nghe được hay không bằng cách quan sát bé có chỉ đúng hình được nói ra hay không. Không có tranh, có thể yêu cầu bé chỉ đồ vật có trong phòng thử như bàn, ghế, đồ chơi, hoặc chỉ các bộ phận cơ thể như tai, mũi, miệng, chân tay…
 
Nếu nói thầm bé chỉ không đúng thì nói to bình thường, nếu bé chỉ không đúng thì dùng nói to, rồi đến hét to gần tai. Căn cứ vào việc bé nghe được ở mức độ nào để đánh giá sơ bộ bé điếc nhẹ, trung bình, hay nặng...

Phòng ngừa:

Ăn uống để phòng bệnh điếc
 
Khi ngoài 60 tuổi, thính lực của con người bắt đầu giảm dần, trường hợp nặng thì điếc hẳn. Theo thống kê, tỷ lệ điếc ở người trên 65 tuổi là 30-  50%.
 
Đây hoàn toàn là kết quả của sự biến đổi sinh lý, có liên quan đến sự thoái hóa của các vi huyết quản bên trong tai người cao tuổi, sự phát bệnh ở ốc tai (một bộ phận của nội nhĩ) và chức năng sinh lý toàn thân giảm sút. Ngoài ra, còn có liên quan đến việc ăn uống không hợp lý.
 
Ăn thức ăn chứa nhiều chất sắt
 
Các thầy thuốc Anh phát hiện thấy ở người chuyển sang tuổi già, hàm lượng sắt trong máu thấp hơn rõ rệt so với người bình thường, hệ thống máu biến đổi, các vi huyết quản ở tai bị hẹp đi, mất tính đàn hồi, máu khó chảy qua, các tế bào hồng cầu dần dần trở nên cứng hơn.
 
Tế bào hồng cầu cứng sẽ dễ làm tắc các vi huyết quản, gây khó khăn cho tuần hoàn máu trong tai, cộng thêm sự thiếu chất sắt trong cơ thể, năng lực chuyên chở ôxy của tế bào hồng cầu bị giảm sút, làm cho tế bào thính giác trong tai thiếu chất dinh dưỡng, qua đó sinh bệnh điếc.
 
Nếu bổ sung thêm chất sắt thì có thể làm giãn mạch máu, làm mềm các tế bào hồng cầu, bảo đảm tai được cung cấp đủ máu, qua đó ngăn chặn tình trạng giảm thính lực ở người cao tuổi. Các thầy thuốc đề nghị, ngay từ tuổi trung niên trở đi, nên ăn thêm các thức ăn giàu chất sắt như: mộc nhĩ đen, gan động vật, thịt nạc, rau cần, rau chân vịt…
 
Ăn nhiều thức ăn chứa chất kẽm
 
Nguyên tố kẽm có tác dụng vô cùng quan trọng đối với thính lực. Hàm lượng kẽm ở ốc tai cao hơn hẳn so với bất kỳ bộ phận nào khác trong cơ thể; nhưng khi ngoài 60 tuổi thì giảm đi rõ rệt, gây trở ngại cho hoạt động chức năng của ốc tai. Bởi vậy, khi sang tuổi trung niên nên ăn cá, đậu nành, rau cải, cà rốt, các loại hải sản, là thực phẩm chứa nhiều kẽm.
 
Bổ sung vitamin D
 
Vitamin D có ảnh hưởng trực tiếp kỳ lạ đến thính lực của người cao tuổi. Các chuyên gia Hoa Kỳ theo dõi 56 người mắc bệnh điếc tuổi già, phát hiện thấy hàm lượng canxi trong máu của họ thấp hơn hẳn mức bình thường, mà nguyên nhân căn bản là do cơ thể thiếu vitamin D.
 
Khi dùng vitamin D điều trị cho các bệnh nhân này trong thời gian 6-10 tháng, thính lực của họ khá lên rõ rệt. Trong vitamin D chủ yếu có vitamin D2 và D3. Các loại nấm và mộc nhĩ trắng (ngân nhĩ) đều chứa vitamin D2. Gan cá biển có hàm lượng vitamin D3 cao nhất; gan gia cầm, gia súc và trứng cũng chứa vitamin D3. Trong các mô da và mỡ người có chứa một chất dehydrocholesterol, sau khi được chiếu bởi tia cực tím trong ánh nắng mặt trời nó có thể hình thành vitamin D3. Bởi vậy, người cao tuổi cần thường xuyên ra nắng.
 
Hạn chế khẩu phần ăn
 
Hạn chế hợp lý khẩu phần ăn không những có thể kéo dài tuổi thọ mà còn có tác dụng rõ rệt ngăn ngừa chứng điếc ở người cao tuổi. Đó là do sau khi bớt khẩu phần ăn, cơ thể cố hết sức thải các chất độc ra ngoài.
 
Ăn nhiều thức ăn hạ mỡ máu
 
Một nhóm chuyên gia quan sát 341 người cao tuổi, kết quả thấy ở người có mỡ máu cao thì tỷ lệ mắc chứng điếc do tuổi già cao hơn rõ rệt so với người có mỡ máu bình thường. Vì vậy, cần thay đổi các thói quen không tốt về ăn uống và ăn nhiều rau quả tươi sẽ có ích cho việc dự phòng chứng điếc ở người cao tuổi.

Điều trị:

Khi bị điếc, cần phải được can thiệp sớm. Muốn can thiệp sớm thì phải phát hiện được sớm. Can thiệp càng sớm bao nhiêu thì tác hại của điếc giảm đi bấy nhiêu. Tùy theo từng loại điếc và nguyên nhân gây ra mà chúng ta can thiệp.
 
1. Điều trị bằng thuốc hoặc thủ thuật, phẫu thuật
 
- Tai ngoài: Có nhiều bệnh nhân sau khi đi tắm biển về hoặc sau khi tắm gội bị điếc luôn một hoặc hai tai, đó là do ráy tai bị nở ra bít kín đường truyền âm thanh đến màng nhĩ. Đối với những trường hợp này chỉ cần lấy ráy tai ra bệnh nhân sẽ nghe lại bình thường.
 
- Tai giữa: tắc vòi nhĩ hoặc viêm tai giữa thanh dịch nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến viêm tai giữa thủng nhĩ. Lúc này muốn tăng sức nghe lên không chỉ điều trị bằng thuốc mà còn phải thực hiện phẫu thuật vá nhĩ.
 
- Tai trong: Điếc đột ngột, bệnh nhân thường bị điếc sau một đêm ngủ dậy. Đây là bệnh không gây tử vong ngay như các bệnh cấp cứu khác nhưng cũng là một trong các bệnh cấp cứu tai mũi họng, vì kết quả điều trị rất khác nhau nếu ngay 1 ngày sau điếc hay 1 tuần sau mới điều trị.
 
Sau điều trị thuốc và phẫu thuật mà sức nghe đã cải thiện vẫn không đáp ứng được giao tiếp bình thường thì phải có thêm trợ thính bằng máy nghe hay cấy điện ốc tai.
 
2. Cho bệnh nhân mang máy nghe
 
Tất cả các trường hợp điếc nhẹ và điếc trung bình, thậm chí điếc nặng và điếc sâu mà không có đủ khả năng kinh tế để cấy điện ốc tai đều nên mang máy nghe càng sớm càng tốt. Những người điếc nhẹ và điếc vừa nếu không can thiệp sớm sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt và công tác hàng ngày vì không giao tiếp tốt. Nếu để lâu không can thiệp, tiếng nói có thể bị méo. Không nghe được tốt và hiểu người khác cũng không tốt, dần dần họ trở nên cô lập, tâm sinh lý thay đổi và sức khỏe cũng ảnh hưởng.
 
3. Cấy điện ốc tai
 
Bệnh nhân điếc nặng và sâu, máy nghe cũng không giúp được cho họ nữa thì có chỉ định cấy điện ốc tai. Đối với trẻ điếc bẩm sinh và điếc trước ngôn ngữ, thời gian bắt đầu mang máy nghe hoặc cấy điện ốc tai rất quan trọng, muốn đạt kết quả tốt nhất phải thực hiện trước 5 tuổi, tuổi thích hợp nhất là từ 2 đến 3 tuổi vì đây là giai đoạn học nói của trẻ.
 
Đối với người điếc nặng và sâu, sau khi có ngôn ngữ nếu không được can thiệp sớm dây thần kinh thính giác 15 - 10 năm không hoạt động khi có âm thanh trở lại nó cũng không truyền tải thông tin tốt đến vỏ não vì vậy dù có được cấy điện ốc tai kết quả cũng kém xa những người được cấy ốc tai sau 1, 2 năm điếc.
 
Tại bệnh viện Tai Mũi Họng, trong 3 năm qua có thực hiện 9 trường hợp cấy điện ốc tai, kết quả khả quan. Trẻ nghe được tốt và đang trong thời gian tập nói.

Biến chứng:

Chế độ chăm sóc:

Chăm sóc trẻ bị điếc
 
Trẻ bị điếc không nghe được nên không học nói được. Trẻ điếc gần như bị ngăn cách với mọi người vì không nghe được, không nói được, dẫn tới bị rối loạn về tâm lý, quan hệ xã hội kém, kiến thức về cuộc sống nghèo nàn, lệch lạc.
 
Nếu để ý quan sát bạn sẽ nhận thấy nỗi khổ của trẻ em bị điếc, đó là: trẻ thường bồn chồn, lo lắng, vẻ mặt và tâm trạng tỏ ra rất khổ sở trước các tình huống bất ngờ, trẻ không được chuẩn bị, không hiểu nổi ý nghĩ và hành động của người khác, trẻ không diễn tả được ý muốn của bản thân.
 
Do đó, trẻ bị điếc có những phản ứng khác nhau, tùy theo bản tính tự nhiên của trẻ như: cáu kỉnh, gây gổ, hay thờ ơ lãnh đạm, tính khí thất thường. Mọi cách cư xử của bố mẹ, người thân như quá thương yêu chiều chuộng, hay nóng giận, lạnh nhạt đều làm cho tình trạng của trẻ càng nặng thêm.
 
Mọi trường hợp điếc từ nhẹ, trung bình, hay điếc nặng, điếc sâu mà chưa có điều kiện để cấy điện ốc tai, thì cần cho trẻ dùng máy nghe càng sớm càng tốt. Nếu để lâu, tiếng nói của trẻ có thể bị méo. Trẻ không nghe được nên không hiểu người khác nói gì, dần dần trẻ bị cô lập, tâm sinh lý thay đổi ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe.
 
Cấy điện ốc tai đối với trẻ bị điếc nặng và sâu, máy nghe cũng kém tác dụng. Nếu trẻ điếc bẩm sinh và điếc trước khi học nói thì thời gian bắt đầu cấy điện ốc tai rất quan trọng, phải cấy điện ốc tai trước 5 tuổi, tốt nhất là cấy từ 2 - 3 tuổi vì đây là giai đoạn trẻ học nói.

Bài thuốc dân gian: