Viêm xoang hàm

14/11/2016 09:47:33
Viêm xoang hàm là tình trạng viêm niêm mạc xoang, không có tổn thương xương. Bệnh thường gặp ở người lớn do nhiễm khuẩn quanh cuống răng, nang chân răng l&
Viêm xoang hàm là tình trạng viêm niêm mạc xoang, không có tổn thương xương. Bệnh thường gặp ở người lớn do nhiễm khuẩn quanh cuống răng, nang chân răng làm mủ vỡ vào xoang, biến chứng của răng nanh hoặc răng khôn mọc ngầm, tai biến do nhổ răng...
 
Bệnh có thể biểu hiện dưới 3 thể:
 
Viêm mủ xoang hàm do răng: Bệnh cảnh giống viêm xoang cấp như đau mặt âm ỉ, sốt, người bệnh ngửi thấy mùi thối, chảy mủ từ lỗ mũi bên xoang bị bệnh. Niêm mạc xoang sẽ bị viêm và một thời gian sau xoang hàm có thể bị viêm mạn tính.
 
Viêm xoang hàm cấp: Nguyên nhân thường do viêm quanh răng hàm lớn có mủ, do viêm tủy răng hoại thư hoặc do tai nạn nhổ răng đẩy chân răng nhiễm khuẩn vào xoang. Bệnh nhân thường sốt cao, nhức đầu, mất ngủ, vật vã. Đặc biệt là cơn đau, đau từng cơn lan rộng cả hàm trên, mắt, thái dương, trán. Đau tăng khi cử động mạnh hoặc khi người bệnh cúi đầu, đôi khi lan đến các răng hàm trên, chạm vào răng bệnh thấy rất đau, ấn vùng dưới ổ mắt đau tăng hơn. Dịch chảy qua lỗ mũi bên bị bệnh, lúc đầu loãng sau trở thành nhày mủ, mủ có mùi thối.
 
Viêm xoang hàm mạn: Thường do những nguyên nhân như viêm mũi xoang, viêm xoang cấp mạn tính hóa, ổ nhiễm khuẩn răng không được điều trị tốt, viêm xoang trán hay xoang sàng mạn lan xuống... Người bệnh đôi khi mệt mỏi, nhức đầu, chảy mủ màu vàng xanh bên bị bệnh, chảy nhiều vào buổi sáng sớm, ngửi thối làm cho người bệnh buồn nôn, đau ít hơn viêm xoang cấp, thường tắc mũi bên xoang bệnh. Có thể viêm thanh quản, viêm họng, tiêu chảy... do nuốt phải mủ và các biến chứng khác như viêm xoang sàng, xoang trán, áp - xe hố mắt, viêm thị thần kinh, viêm tắc tĩnh mạch xoang, đau răng.
 

Nguyên nhân:

Qua nghiên cứu người ta thấy bệnh lý răng liên quan nhiều đến tai mũi họng.
 
Điểm lại về mặt giải phẫu, ta sẽ thấy trong hệ thống xoang thì xoang hàm liên quan mật thiết với xương hàm trên và răng hàm trên. Răng hàm trên số 3, 4, 5 có chân chui sâu tới mặt dưới của xoang hàm. Một số trường hợp, mặt dưới xoang hàm bị chân răng phá hủy và chân răng nằm sâu vào trong xoang.
 
Những bệnh lý của viêm răng như viêm chân răng, viêm quanh cuống, viêm tủy răng, rò chân răng… hoặc khi can thiệp bệnh lý răng hàm trên làm răng tụt vào trong xoang gây dị vật xoang hàm, vỡ mặt dưới xoang hàm do nhổ răng…

Các yếu tố, nguy cơ:

Triệu chứng, biểu hiện:

Cũng giống như các viêm nhiễm khác, viêm xoang hàm do răng làm bệnh nhân sốt cao 39-40 độ C, đau nhức vùng đầu mặt. Đặc điểm của viêm xoang hàm do răng cũng khá đặc thù với biểu hiện bệnh khu trú hoàn toàn một bên hốc mũi. Ngạt tắc mũi một bên, chảy nước mũi vàng xanh một bên đôi khi lẫn máu kèm theo hốc mũi viêm có mùi rất thối mà chỉ có bệnh nhân mới ngửi thấy được.
 
Khám mũi, thấy hốc mũi bên đối diện thông thoáng, niêm mạc hoàn toàn bình thường. Ngược lại niêm mạc của hốc mũi bên bệnh phù nề, xung huyết đỏ, đôi khi lẫn máu, khe giữa nhiều dịch xuất tiết vàng xanh lẫn chất hoại tử thối.
 
Vòm mũi họng cũng có dịch mủ ứ đọng. Rãnh lợi môi nề đỏ, đôi khi xuất hiện lỗ rò có mủ chảy ra hoặc sưng tấy ngay rãnh mũi má. Răng tương ứng sát đáy xoang hàm đau, lung lay hoặc là răng giả (đã mất răng).

Chẩn đoán bệnh:

Bệnh viêm xoang hàm do răng thường phải phân biệt với ung thư sàng hàm. Việc phân biệt chủ yếu dựa vào sinh thiết tổ chức tại hốc mũi hoặc trong lòng xoang đánh giá tế bào dưới kính hiển vi điện tử.
 
Chụp phim xoang hàm thấy xoang hàm bên bệnh mờ hơn so với bên lành, không có hình ảnh phá hủy xương (trong ung thư thành xoang bị đẩy dồn, giãn rộng và phá hủy). Bên cạnh đó, chụp phim toàn cảnh về răng (panorama) nhằm xác định răng gây bệnh để kết hợp điều trị.
 
Trong trường hợp răng lạc chỗ, việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào hình ảnh trên phim chụp xoang thấy khối xương hình dáng giống răng trong lòng xoang. Triệu chứng về xoang lại không biểu hiện, chủ yếu là dấu hiệu đau khi vị trí răng lạc chỗ nằm ở đường dẫn lưu của xoang.
 
Một số bệnh nhân lại hoàn toàn tình cờ phát hiện ra răng mình không nằm đúng chỗ khi đi khám những bệnh khác. Khi khám răng thường bệnh nhân thiếu mất răng nanh.

Phòng ngừa:

Dù không thể ngăn ngừa tất cả các bệnh lý mũi xoang cũng như các đợt cảm lạnh hoặc nhiễm khuẩn, nhưng có thể áp dụng các biện pháp nhất định để giảm số lần, độ nặng cũng như ngăn ngừa viêm xoang cấp trở thành mạn tính:
 
- Sắp xếp thời gian làm việc và nghỉ ngơi thích hợp, chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng và luyện tập để duy trì sức đề kháng chung chống nhiễm trùng. Giữ sạch môi trường xung quanh, tránh xa khói thuốc lá, bụi và các chất ô nhiễm. Đeo khẩu trang khi ra đường và làm việc nơi có nhiều bụi bặm, hoá chất... Vệ sinh cơ thể, rửa tay thường xuyên. Tránh uống rượu vì có thể làm viêm xoang nặng hơn.
 
- Thường xuyên vệ sinh mũi khi bị cảm cúm, tiếp xúc khí lạnh.
 
- Cần điều trị các tác nhân gây viêm mũi xoang như cúm, sởi, polyp mũi, nạo VA, vẹo vách ngăn mũi, trám - nhổ răng sâu.
 
- Không tự ý sử dụng các thuốc xịt thông mũi kéo dài mà không có ý kiến bác sĩ.

Điều trị:

Biến chứng:

Những biến chứng thường gặp ở mắt
 
Thường hay gặp, do phía trước hốc mắt là xoang hàm, phía trên là xoang trán, phía trong là xoang sàng và xoang bướm.
 
Nhiễm trùng ổ mắt do viêm xoang trong 85% trường hợp thì có khoảng 10% sẽ bị mù. Nguyên nhân chủ yếu là do viêm xoang sàng, một số ít là viêm xoang hàm, với xoang trán thì ít gặp hơn. Quá trình viêm nhiễm lan tỏa hoặc theo đường mạch máu từ xoang qua hốc mắt gây nên các biến chứng tại mắt.
 
Viêm mô liên kết quanh hốc mắt
 
Thường gặp là do viêm xoang cấp tính. Bệnh nhân đau nhức mắt dữ dội, đau xuyên lên đỉnh đầu. Mi mắt sưng phù. Viêm nhiễm có thể lan cả vùng thái dương khiến khó khám nhãn cầu và đánh giá mức độ lỗi mắt. Việc thăm khám lâm sàng vô cùng quan trọng nhằm đánh giá là viêm mô liên kết đơn thuần (chỉ cần điều trị kháng sinh) hay đã có sự tụ mủ trong hốc mắt (cần phải phẫu thuật). Chỉ định phẫu thuật khi có 1 trong 3 dấu hiệu sau đây :
 
- Nhãn cầu cố định do liệt vận nhãn.
 
- Giãn đồng tử do liệt.
 
- Mất cảm giác giác mạc.
 
Viêm dây thần kinh thị giác
 
Gặp đến 60% trường hợp do viêm xoang sàng sau và xoang bướm.
 
Đột nhiên, thị lực bệnh nhân giảm hẳn mà khám chuyên khoa mắt, soi đáy mắt không tìm thấy nguyên nhân.
 
Biểu hiện bệnh lý xoang cũng rất khó nhận biết: không ngạt mũi, không sổ mũi, ít khi nhức đầu. Có thể có ít dịch chảy xuống họng từ khe trên. Thị lực có thể giảm kéo dài hoặc phục hồi nhanh nếu được điều trị tốt, đặc biệt là phẫu thuật nạo xoang sang
 
Một vài biến chứng khác ở bệnh
 
- Áp-xe mi mắt : Do viêm xoang trán hoặc xoang sàng gây áp-xe mi trên, hay viêm xoang hàm gây áp-xe mi dưới. Mí mắt sưng to, nóng, đỏ, đau, kết mạc xung huyết. Túi mủ sẽ vỡ ra sau 4 – 5 ngày.
 
- Áp-xe túi lệ: Tình trạng này thường gặp trong viêm xoang cấp do xương lệ mỏng và có ống lệ tỵ thông mắt với mũi xoang. Biểu hiện, góc trong mắt sưng nề, đỏ, lan đến mi mắt và toàn bộ kết mạc. Bệnh nhân sốt và nhức mắt, khi mủ vỡ ra thì có thể hết nhức và có thể tạo ra lỗ rò mạn tính sau này.
 
Các biến chứng nội sọ
 
Có thể gặp các trường hợp viêm màng não, tụ mủ dưới màng cứng, áp-xe ngoài màng cứng, viêm tắc xoang tĩnh mạch dọc trên, viêm tắc tĩnh mạch xoang hang và áp-xe não. Nguyên nhân có thể do viêm xoang cấp hoặc mạn.
 
Các dấu hiệu thường gặp là hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc nặng và hội chứng tăng áp lực nội sọ: sốt cao, nhức đầu, sợ ánh sáng, tinh thần trì trệ, buồn nôn, cổ cứng. Tuy nhiên, đôi khi triệu chứng rất lu mờ nếu tổn thương chỉ ở thùy trán, chỉ thay đổi nhân cách chút ít.
 
Biến chứng xương
 
Thường gặp là viêm cốt tủy xương trán hay xương hàm trên. Nguyên nhân do viêm tắc mạch máu ở xương. Bệnh bắt đầu từ xương trán, sau lan ra xương thái dương, xương đỉnh. Biểu hiện với đau nhức xương trán tại một điểm, sưng tấy vùng xương trán và sau đó tạo thành một áp-xe tại đây. Rạch tháo mủ thấy xương trán biến thành màu xám dễ chảy máu.
 
Một vài biến chứng khác có thể thường gặp
 
Trong viêm xoang mạn, có thể nhiễm trùng huyết, viêm họng mạn tính do dịch hoặc mủ chảy xuống họng gây viêm tại chỗ, ho khạc đờm có khi có cả máu, biểu hiện như  'lao phổi giả' hoặc 'viêm phế quản'.
 
Ngoài ra viêm xoang còn gây ra các phiền toái khác như khụt khịt rất khó chịu, làm cho bệnh nhân luôn tránh đám đông, nhức đầu, ê ẩm, mất tập trung khi làm việc.

Chế độ chăm sóc:

Bài thuốc dân gian: