Bệnh Basedow

14/11/2016 09:47:47

Yếu tố di truyền là yếu tố nguy cơ chính của bệnh Basedow

Bệnh Basedow, hay còn gọi là bệnh Graves, là một bệnh tự miễn ảnh hưởng đến tuyến giáp, làm tuyến giáp phì đại lên gấp đôi hoặc to hơn nữa gây bướu cổ, tuyến giáp hoạt động quá mức gây cường giáp. Những rối loạn này ảnh hưởng đến các hệ cơ quan khác, bao gồm da, tim, tuần hoàn và thần kinh, với các triệu chứng liên quan bao gồm tăng nhịp tim, yếu cơ, mất ngủ hoặc khó ngủ, tính tình dễ bị kích động. Bệnh cũng có thể ảnh hưởng đến mắt, gây lồi mắt.
 
Có khoảng 2% nữ giới bị mắc bệnh Basedow, đôi khi bệnh xuất hiện sau khi sinh con, với tỷ lệ mắc bệnh nữ: nam là 7:1 đến 8:1. Yếu tố di truyền là yếu tố nguy cơ chính của bệnh Basedow, với 79% nguyên nhân mắc bệnh là do di truyền.

Nguyên nhân:

Tuyến giáp là một tuyến nội tiết nằm ở vùng cổ phía trước. Đây là một tuyến nội tiết có vai trò quan trọng, tiết ra hai loại hormon là tri-iodothyronin (T3) và tetra-iodothyronin (T4) có vai trò làm tăng cường chuyển hoá và phát triển cơ thể.
 
Ở cơ thể bình thường, bạch cầu  sản xuất ra các protein gọi là kháng thể, có vai trò bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của các tác nhân lạ (vi sinh vật, dị nguyên...). Trong các bệnh tự miễn, cơ thể sản xuất ra các kháng thể chống lại tế bào của chính bản thân cơ thể người bệnh.
 
Trong trường hợp bệnh Basedow, cơ thể sản xuất một loại tự kháng thể có khả năng kích thích tuyến giáp tăng cường sản xuất và bài tiết T3, T4 gây biểu hiện cường giáp ở người bệnh. Tự kháng thể này không chỉ tác động lên tuyến giáp mà còn gây ảnh hưởng lên một số cơ quan khác trong cơ thể như mắt, da.
 
Hiện vẫn chưa rõ cơ chế tại sao cơ thể lại sinh ra tự kháng thể nói trên, tuy nhiên đây có thể là hậu quả của nhiều yếu tố kết hợp lại như di truyền, tuổi, giới tính, stress…

Các yếu tố, nguy cơ:

Bệnh Basedow thường gặp ở mọi lứa tuổi, song phần lớn là ở độ tuổi lao động, do đó ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe và năng suất lao động của bệnh nhân.
 
Ở các nước phương Tây và Mỹ, tỷ lệ mắc bệnh chiếm từ 0,02-0,4% dân số, tại các vùng miền Bắc nước Anh tỷ lệ này lên đến 1%. Tại Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh cũng khá cao, chiếm từ 10-39% những người có bướu giáp đến khám tại bệnh viện.
 
Trong số những người bị bệnh có đến trên 80% là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ trẻ từ 21-30 tuổi. Ðiều này rất quan trọng trong vấn đề lựa chọn phương pháp điều trị.

Triệu chứng, biểu hiện:

Chẩn đoán bệnh:

Phòng ngừa:

Điều trị:

Biến chứng:

Chế độ chăm sóc:

Bài thuốc dân gian: