Hội chứng hô hấp cấp tính SARS

14/11/2016 09:47:48

Dịch hội chứng hô hấp cấp SARS lần đầu tiên xuất hiện bắt đầu từ Quảng Đông - Trung Quốc vào ngày 16/11/2002

Tình hình chung:
 
Dịch hội chứng hô hấp cấp nặng (SARS: Severe Acute Respiratory Syndrome) lần đầu tiên xuất hiện bắt đầu từ Quảng Đông - Trung Quốc vào ngày 16/11/2002, rồi lan ra Hồng Công, Việt Nam, Singapore, Canada... với 32 quốc gia có dịch, có 8.439 người mắc bệnh và tử vong >800 người, với tỷ lệ tử vong >10%. SARS được coi là bệnh dịch của thế kỷ 21.
 
- Dịch SARS xảy ra ở Việt Nam từ 26/3/2003 do 1 người Mỹ gốc Hồng Kông John.C.C bị nhiễm từ Hồng Kông tới đã gây vụ dịch tại bệnh viện Việt Pháp – Hà Nội sau lan ra tỉnh Ninh Bình với 64 trường hợp mắc bệnh, có 5 người bệnh tử vong (tất cả đều tại bệnh viện Việt Pháp).
 
- Ngày 28 /4/2003, Việt Nam là nước đầu được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công nhận đã khống chế thành công dịch SARS rồi đến các nước Singapore, Canada, Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc khống chế được dịch. Với sự nỗ lực của ngành y tế và chính phủ các quốc gia, WHO và các nhà khoa học trên thế giới chúng ta đã khống chế được bệnh dịch SARS. Song WHO cũng cảnh báo SARS có thể bùng phát trở lại vào mùa đông năm 2003.
 
Một số đặc điểm của SARS:
 
- Một biểu hiện bệnh lí mới lạ nên thế giới chưa có kinh nghiệm phòng bệnh và điều trị.
- Dịch lây nhiễm cao trong bệnh viện, chủ yếu cho các nhân viên y tế và người bệnh, ở các chung cư đông dân. Bệnh lan tràn theo con đường du lịch.
- Tỷ lệ tử vong rất cao >10%.
- Căn nguyên sau này được xác định là virus SARS-CoV.
- SARS đã ảnh hưởng to lớn đối với kinh tế, xã hội toàn cầu.
 

Nguyên nhân:

Hiện nay, virus mới thuộc chủng Coronavirus được nghi ngờ là nguyên nhân chính gây SARS, tuy nhiên cũng có nhiều virus khác cũng đang được nghiên cứu để tìm những nguyên nhân tiềm ẩn khác.
 
- Coronavirus:
 
Coronavirus là chủng virus có dạng vòng, quan sát dưới kính hiển vi. Virus này là nguyên nhân thường gặp của các bệnh lý mức độ từ nhẹ đến trung bình của đường hô hấp trên ở người, ở thú vật, virus thường gây bệnh ở hệ hô hấp, hệ tiêu hoá, bệnh gan và hệ thần kinh. Coronavirus có thể tốn tại trong môi trường bình thường trong thời gian khoảng 3 giờ.
 
- Những bằng chứng chứng tỏ Coronavirus liên quan đến SARS:
 
Những nhà khoa học của CDC đã phân lập được virus từ hai bệnh nhân SARS, sau đó bằng các phương tiện đặc biệt, họ cuối cùng đã xác định được tác nhân này. Qua quan sát bằng kính hiển vi điện tử, virus này cho thấy có hình dạng và nhiều đặc điểm tương tự chủng coronavirus. Xét nghiệm mẫu huyết thanh của những bệnh nhân SARS cũng chứng tỏ họ đã nhiễm coronavirus. Nhiều xét nghệm cận lâm sàng khác cũng chứng tỏ virus này hiện diện trong nhiều chất dịch của bệnh nhân như đờm, nước mũi...
 
Thêm nữa, qua phân tích gen của virus này cũng chứng tỏ nó thuộc nhóm coronavirus, nhưng không nằm trong các loại coronavirus đã biết trước đây. Tuy nhiên, những bằng chứng trên không đưa ra kết luận rằng nguyên nhân của SARS chính là một loại coronavirus mới, vẫn còn nhiều nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu thêm liệu giả thuyết trên có đúng hay không?
 
- Thông thường coronavirus chỉ gây bệnh nhẹ ở người, vậy tại sao loại coronavirus mới phát hiện này lại có thể gây một bệnh nguy hiểm, đe dọa tính mạng như thế?
 
Hiện vẫn chưa có đủ thông tin để xác định đầy đủ mức độ nặng nhẹ của bệnh mà virus này có thể gây ra cho con người. Coronavirus thường gây bệnh ở đường hô hấp, nhất là đối với những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Virus cũng có thể gây những bệnh nặng ở thú vật như mèo, chó, lợn, chuột và chim.
 
- Liệu những hiểu biết mới về virus này có làm thay đổi các thuốc dùng điều trị SARS hiện nay không?
Khả năng coronavirus là nguyên nhân của SARS cũng không ảnh hưởng nhiều đến thuốc lựa chọn điều trị SARS. Các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu để tìm liệu có một loại thuốc nào thực sự hiệu quả đối với loại coronavirus mới này hay không?

Các yếu tố, nguy cơ:

Đối tượng nguy cơ cao nhiễm SARS :
 
Những trường hợp mới nhiễm thường được phát hiện ở những người có tiếp xúc gần gũi trực tiếp với bệnh nhân SARS, như người sống trong cùng nhà, nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân SARS mà không dùng các phương tiện bảo hộ nghiêm ngặt.
 

Triệu chứng, biểu hiện:

Các triệu chứng chính gồm:
 
- Sốt cao trên 38oC
- Ho, thở nông, khó thở, đau đầu hoặc đau họng.
- Ði đến những khu vực có các ca bệnh SARS trong vòng 10 ngày gần đây hoặc tiếp xúc trực tiếp trong vòng 10 ngày gần đây với những người có những triệu chứng trên và đã đi đến khu vực bị ảnh hưởng.
Nếu có một trong các vấn đề trên, cần đi khám bệnh ngay lập tức. Ðể giúp các bác sĩ, bạn cần kể về việc đi lại gần đây của bạn và những người mà bạn đã tiếp xúc gần đây.

Chẩn đoán bệnh:

1. Dịch tễ học
 
- Ở vùng dịch đang lưu hành (vào vùng đang xảy ra dịch).
- Tiếp xúc với người bệnh SARS hoặc nghi ngờ mắc SARS.
 
2. Lâm sàng
 
- Thời gian ủ bệnh trung bình 7 – 10 ngày, có thể 2 – 14 ngày.
- Triệu chứng toàn thân:
+ Sốt cao >38oC có thể có rét run.
+ Đau đầu, đau mỏi các cơ.
- Triệu chứng hô hấp:
+ Ho khan hoặc có đờm.
+ Ít có biểu hiện viêm long.
+ Khó thở: Thở nhanh nông >25 lần/phút.
+ Có dấu hiệu suy hô hấp, tím môi, SpO2 giảm.
+ Nghe phổi có ran rít hoặc ran ngáy hoặc ran ẩm ở 1 hoặc 2 bên phổi.
- Các biểu hiện khác:
+ Ỉa chảy
+ Nhịp tim chậm.
 
3. Cận lâm sàng
 
3.1. Xquang phổi
 
- Tổn thương thường xuất hiện từ ngày thứ 3 trở đi, tiến triển và thay đổi hàng ngày.
- Tổn thương kiểu viêm phổi không điển hình với các đám mờ thâm nhiễm như đám mây không rõ ranh giới. Lúc đầu thường ở 1 bên sau lan sang 2 bên và có thể lan tràn khắp 2 phổi, không còn nhìn thấy nhu mô phổi lành.
- Không có hình ảnh tràn dịch màng phổi
 
3.2. Khí máu (Trường hợp nặng)
 
SaO2 giảm <90%
Pa02 giảm <60 mmHg
PaCO2 bình thường
HCO3- bình thường hoặc hơi giảm
pH trong giới hạn bình thường
 
3.3. Bạch cầu và tiểu cầu bình thường hoặc giảm.
 
Bạch cầu có thể tăng khi bị bội nhiễm vi khuẩn
- CPK, men gan (AST, ALT), CRP có thể tăng
- Urê máu bình thường
 
3.4. Vi sinh vật
 
- Bệnh phẩm: Đờm, ngoáy họng, mũi, máu.
- Phát hiện SARS–CoV–RNA bằng kỹ thuật PCR có thể cho kết quả sau 6 giờ
- Phân lập virus
- Test phát hiện kháng thể (đang nghiên cứu sản xuất).

Phòng ngừa:

1. Vấn đề lây nhiễm:
 
- Tỷ suất tấn công thứ cấp >50%.
- Virus: dự đoán có lẽ tồn tại được trong vài ngày.
- Tiếp xúc gần gũi:
+ Mặt đối mặt
+ Sinh hoạt chung
+ Giọt nước nhỏ đường hô hấp, chất dịch cơ thể.
- Phần lớn lây trong bệnh viện (bác sĩ, điều dưỡng).
- Lây qua tiếp xúc người trong gia đình.
- Hiếm lây do tiếp xúc tình cờ (làm việc chung trong một cao ốc, đi cùng chuyến bay cách vài hàng ghế).
 
2. Khu cách ly người SARS:
 
- Cách ly tại khu vực riêng ngay sau khi phát hiện.
- Những bệnh nhân đang theo dõi chẩn đoán phải tách riêng khỏi bệnh nhân SARS.
- Phòng thông thoáng, không máy lạnh.
- Có người canh gác lối ra vào.
- Ghi sổ các trường hợp tiếp xúc, thăm viếng.
- Trước cửa buồng bệnh có dung dịch cloramin B 5%.
- Có thảm vải tẩm cloramin B hoặc formalin.
 
3. Người bệnh:
 
- Mang khẩu trang (cho đến khi loại chẩn đoán SARS).
- Hạn chế tiếp xúc.
- Giám sát thăm nuôi chặt chẽ: mang mask, áo choàng, đeo găng, đội mũ.
- Vận chuyển người bệnh
+ Hạn chế vận chuyển
+ Khi vận chuyển: bảo đảm nguyên tắc an toàn cho người bệnh và người chuyển bệnh.
 
4. Nhân viên y tế
 
- Đeo khẩu trang tiêu chuẩn (N95), áo choàng, đội mũ, đeo găng.
- Rửa tay xà phòng sau khi thăm khám (găng không thay thế rửa tay).
- Đeo kính bảo hộ, găng khi làm thủ thuật.
- Chất thải y tế: thực hiện nghiêm ngặt quy chế quản lý chất thải y tế.
 
5. Sử dụng khẩu trang đúng
 
- Tránh tiếp xúc mặt trước của mask (sau khi đã sử dụng).
- Chỉ mang 1 mask.
- Khi rời khỏi phòng cách ly, bỏ vào bao nylon, mang theo trên người.
- Có thể dùng lại mask khô.
 
6. Xử lý người bệnh tử vong
 
- Khâm liệm tại chỗ. Khử khuẩn với hóa chất (cloramin B, formalin).
- 24 giờ sau chết phải hỏa táng hoặc chôn cất.
- Chuyển đến nơi chôn cất hoặc hỏa táng bằng xe riêng, đảm bảo quy định phòng bệnh.

Điều trị:

- Nguyên tắc:
+ Nhập viện: cách ly hoàn toàn.
+ Điều trị triệu chứng.
+ Thông báo: Trung tâm Y tế dự phòng và Bộ Y tế
 
1. Điều trị triệu chứng
 
- Ho
- Tắc, nghẹt mũi
- Sốt: > 38,5oC: uống Paracetamol 2 g/ngày hoặc 50-60 mg/kg/ngày.
- Dinh dưỡng, nước điện giải: dung dịch NaCl 0,9%, Glucose 5%, Lactate Ringer, dung dịch axít amin.
- Điều trị hỗ trợ:
+ MethylPrednisolone: (tĩnh mạch) 1 mg/kg/ngày x 3 ngày (Suy hô hấp nặng).
+ Gamma Globulin (tĩnh mạch)
 
2. Điều trị suy hô hấp
 
- Bảo đảm thông khí: SpO2 ≥ 90% ; PaO2 ≥ 60 mmHg
- Thở O2 qua ống thông mũi hoặc mask 4-10 lít/phút, 1-3 lít/phút (COPD)
- Thông khí nhân tạo không xâm nhập.
- Thông khí nhân tạo xâm nhập (nội khí quản, thở máy).
- Trẻ em: phác đồ xử trí suy hô hấp cấp trẻ em.
 
3. Điều trị căn nguyên
 
- Nghi ngờ tác nhân virus.
- Nếu nghi ngờ bội nhiễm: kháng sinh phổ rộng (vi khuẩn thông thường và vi khuẩn viêm phổi không điển hình).
- Thuốc kháng virus:
+ Amantadine (Mantalix 100 mg) 1 viên x 2 lần/ngày.
+ Ribavirin (Rebetol 200mg) 2 viên x 2 lần/ngày.
+ Oseltamivir 75mg x 2 lần/ngày.
 
4. Tiêu chuẩn ra viện
 
- Hết sốt ít nhất 5 ngày.
- Chức năng sống bình thường, toàn trạng tốt.
- Công thức máu về bình thường.
- Xquang phổi: ổn định hoặc cải thiện >48 giờ sau hết sốt.
- Khí máu: SpO2>90%, PaO2>60 mmHg (±)
+ Chuyển khu vực cách ly (đủ điều kiện), sau 1 tuần ổn định mới xuất viện.
+ Sau xuất viện: khám và chụp Xquang phổi kiểm tra 1 tuần/lần đến khi bình thường.
+ Sau xuất viện: tái khám ngay khi có dấu hiệu bất thường.

Biến chứng:

- Vấn đề về thở có thể trở nên nghiêm trọng.
- SARS gây tử vong trong một số trường hợp, thường do suy hô hấp.
- Các biến chứng khác có thể bao gồm tim và suy gan.
- Những người ≥ 60 tuổi, đặc biệt là những người bị tiểu đường hoặc bệnh viêm gan - có nguy cơ cao bị biến chứng nghiêm trọng.

Chế độ chăm sóc:

Chăm sóc bệnh nhân có khả năng bị hội chứng hô hấp cấp tính thể nặng (SARS)
 
Sử dụng biện pháp chăm sóc phân loại nhanh chóng sắp đặt phương tiện y tế chăm sóc, các bệnh nhân có biểu hiện giống cúm vào một khu vực thăm khám riêng biệt để hạn chế tối đa khả năng lây lan cho người khác trong phòng chờ khám. Các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh cần phải đeo khẩu trang phẫu thuật cho đến khi loại trừ được SARS.
 
Những bệnh nhân có khả năng bị SARS cần phải cách ly và sắp vào các phòng ưu tiên theo điều kiện có thể như sau:
 
- Phòng có áp suẩt âm và cửa đóng kín.
 
- Phòng đơn có phương tiện vệ sinh riêng.
 
- Tập trung thành khu vực riêng có hệ thống cung cấp và thải khí độc lập.
 
- Cần phải tắt điều hoà nhiệt độ, mở cửa sổ cho thoáng khí nếu hệ thống cung cấp khí độc lập không hữu hiệu. Nếu được, thì nên cách ly những trường hợp còn đang khám nghiệm chẩn đoán với những ca đã được chẩn đoán SARS.
 
- Triệt để sử dụng các thiết bị dùng một lần, nếu được, trong việc điều trị và chăm sóc các bệnh nhân bị SARS. Nếu sử dụng các dụng cụ dùng lại, thì cần phải tiệt trùng theo hướng dẫn của từng loại thiết bị do nhà sản xuất đề xuất. Các bề mặt trong khu vực cần phải lau chùi với các thuốc sát trùng phổ rộng (diệt được cả vi khuẩn, nấm và vi rút) mà được xác nhận là công hiệu.
 
- Hạn chế đến mức tối đa việc di chuyển bệnh nhân. Nếu cần phải di chuyển thì bệnh nhân phải đeo khẩu trang phẫu thuật để giảm thiểu phóng thích dịch tiết ra ngoài. Nên dùng loại khẩu trang tiêu chuẩn NIOSH (N95) thường là loại được dùng để ngăn ngừa các bệnh đường hô hấp có khả năng lây lan mạnh như lao, nếu bệnh nhân có thể dung nạp được.
 
Tất cả các thân nhân thăm viếng, nhân viên, sinh viên và các nhân viên tình nguyện cần phải đeo khẩu trang NS95 khi vào phòng của bệnh nhân nghi ngờ hoặc đã được xác định là SARS. Khẩu trang phẫu thuật có thể dùng thay thế nhưng kém hiệu quả hơn.
 
- Rửa tay là biện pháp giữ vệ sinh quan trọng nhất để ngăn ngừa lây nhiễm. Găng tay không thể thay thế được cho biện pháp rửa tay. Cần phải rửa tay trước và sau khi có tiếp xúc gần với bất kỳ bệnh nhân nào, cũng như sau các công việc có tính cách lây truyền và sau khi thay găng tay. Các thuốc diệt khuẩn rửa tay có cồn không cần nước có thể dùng trong một số trường hợp thật hãn hữu thôi.
 
Các nhân viên y tế cần phải mang găng tay khi tiếp xúc với bệnh nhân trong bất cứ tình huống nào. Cần phải thay găng tay sau khi tiếp xúc với mỗi bệnh nhân cũng như các công việc có khả năng bị nhiễm các dịch tiết đường hô hấp (như khẩu trang, ống ôxy, thông mũi, các khăn lau).
 
- Cần phải mặc áo choàng (tạp dề chống thấm nước) và mũ trùm đầu trong mọi thủ thuật và các thao tác trên bệnh nhân có khả năng làm văng, bắn dịch tiết đường hô hấp.
 
- Nhân viên y tế cần phải đeo kính bảo vệ mắt hoặc mũ che mặt trong các thủ thuật có nguy cơ văng, rơi vãi hoặc bắn máu hoặc các dịch cơ thể.
 
Cần phải đeo liên tục loại khẩu trang bảo vệ đường hô hấp cá nhân có bộ lọc đặc biệt (N95), có khả năng lọc các phần tử nhỏ ở kích thước 0,3mcm khi thăm bệnh kể cả bệnh nhân nghi ngờ hay đã xác định bị SARS.
 
- Cần phải áp dụng chế độ cảnh báo tiêu chuẩn khi xử lý các chất thải lâm sàng. Tất cả các chất thải cần được xử lý cẩn tắc để tránh gây chấn thương do vật sắc nhọn (những loại không đựng trong hộp chứa riêng).
 
Cần phải mang áo và đi găng bảo vệ khi xử lý các túi và thùng chứa chất thải lâm sàng. Tránh tối đa việc dùng sức người để xử lý chất thải nếu được. Chất thải lâm sàng cần bỏ vào các túi chống rò rỉ các chất sinh học độc hại được thiết kế thích hợp có dán nhãn và loại thải đảm bảo an toàn.

Bài thuốc dân gian: