Giãn phế quản

14/11/2016 09:47:49

Hầu hết các bệnh nhân giãn phế quản có triệu chứng lâm sàng điển hình (ho, khạc đờm mủ kéo dài)...

Giãn phế quản là bệnh lý khá thường gặp. Hầu hết các bệnh nhân giãn phế quản có triệu chứng lâm sàng điển hình (ho, khạc đờm mủ kéo dài); tuy nhiên, cũng có nhiều bệnh nhân xuất hiện giãn phế quản không hề có triệu chứng, hoặc có triệu chứng giống hen phế quản... Vậy giãn phế quản là gì?
 
Giãn phế quản là tình trạng giãn không hồi phục của cây khí phế quản, có thể giãn phế quản khu trú chỉ ở một vùng của phổi, tuy nhiên, phần lớn các trường hợp giãn phế quản là giãn lan tỏa, bị cùng lúc khắp các vị trí lòng phế quản ở cả hai bên.
 
Do lòng phế quản bị giãn rộng, các lông chuyển ở đường hô hấp bị tổn thương, do vậy ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc vận chuyển đờm và các chất tiết đường hô hấp ra ngoài.
 
Khi chất tiết, dịch đường hô hấp bị ứ đọng lại, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng đường hô hấp, quá trình nhiễm trùng này lại gây tổn thương niêm mạc đường thở, làm cho tình trạng giãn phế quản ngày một nặng thêm.
 

Nguyên nhân:

1. Giãn phế quản mắc phải
 
Loại này chiếm tới 90% số bệnh nhân giãn phế quản. Có thể gặp khi:
 
+ Viêm đường hô hấp kéo dài: thường là hậu quả của các bệnh như viêm xoang, viêm tai, viêm mũi, viêm vùng răng miệng, nhiễm khuẩn đường hô hấp, nhiễm vi-rút đường hô hấp, một số bệnh nghề nghiệp... Các bệnh này gây nhiễm khuẩn phế quản kéo dài và tái diễn, dẫn đến tổn thương các sợi cơ, sợi chun và sụn phế quản. Đồng thời, các chất xuất tiết ùn tắc lại trong phế quản và phản xạ ho gây tăng áp lực trong lòng phế quản kéo dài sẽ dẫn tới giãn phế quản.
 
+ Lao phổi: trong lao phổi, hiện tượng xơ sẹo phát triển sẽ gây biến dạng và chít hẹp phế quản, tại đó tình trạng viêm nhiễm và ứ đọng các chất xuất tiết sẽ dẫn tới tổn thương các cấu trúc thành phế quản, kết hợp với phản xạ ho gây tăng áp kéo dài sẽ làm phế quản bị giãn ra.
 
Tuỳ từng thể lao mà khả năng gây giãn phế quản khác nhau: lao xơ hang gây giãn phế quản nhiều hơn 4 lần lao hạt và nhiều hơn 11 lần lao thâm nhiễm.
 
+ Các bệnh viêm nhiễm vi-rút ở phổi và phế quản: các bệnh này gây bội nhiễm, ho và tăng áp trong lòng phế quản kéo dài. Lúc đầu, giãn phế quản chỉ là tạm thời, nhưng do điều trị không tốt thì tổn thương sẽ trở thành không hồi phục và dẫn tới bệnh giãn phế quản.
 
+ Các tổn thương gây hẹp phế quản: khi các phế quản bị hẹp sẽ gây ùn tắc trong phế quản gây viêm nhiễm, xuất tiết kéo dài và tổn thương các cấu trúc thành phế quản, đồng thời sự chít hẹp này cũng gây tăng áp trong lòng phế quản và dẫn tới giãn phế quản tăng dần. Các bệnh lý hay gây nên tình trạng này là: các polyp phế quản, dị vật phế quản, các bệnh lý hạch ở rốn phổi như lao hạch, Hodgkin, Lymphosarcom...
 
+ Giãn phế quản do hoá chất: thường gặp ở những người làm việc lâu ngày với các hoá chất bay hơi. Các hoá chất này bị hít vào đường hô hấp gây kích thích, tăng tiết và tổn thương cấu trúc thành phế quản, đồng thời gây phản xạ ho và tăng áp trong lòng phế quản kéo dài dẫn tới giãn phế quản.
 
2. Giãn phế quản bẩm sinh
 
Giãn phế quản bẩm sinh chỉ chiếm khoảng 10% số bệnh nhân giãn phế quản. Đa số đều thấy ở bệnh nhân trẻ và có kết hợp với bệnh phổi đa nang. Giãn phế quản bẩm sinh thường là loại giãn phế quản hình túi và thường có những tổn thương bẩm sinh khác kèm theo.

Các yếu tố, nguy cơ:

Giãn phế quản là tình trạng giãn không hồi phục các phế quản nhỏ và trung bình kèm theo sự rối loạn cấu trúc các lớp phế quản, tăng tiết dịch phế quản và nhiễm khuẩn từng đợt. Bệnh có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải. Nam mắc bệnh nhiều hơn nữ với tỉ lệ so sánh 4 nam/1 nữ.
 
Nhóm đối tượng cần lưu ý
 
Có thể bạn đã từng biết một người họ hàng hay bạn bè, trước đây là người khỏe mạnh bình thường, nay nghe tin người đó bị bệnh giãn phế quản. Điều mà bạn muốn biết là vì sao từ một người bình thường lại mắc bệnh giãn phế quản? Có phòng tránh được không?
 
Giãn phế quản có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải, trong đó bệnh mắc phải là phổ biến, nhưng có thể phòng tránh được. Bệnh giãn phế quản mắc phải có hai thể khu trú và lan tỏa. Thể khu trú do phế quản bị hẹp một phần gây nên sự ứ dịch tiết nên dễ nhiễm khuẩn và làm cho phế quản bị giãn ra. Các bệnh gây hẹp phế quản là khối u lành tính hoặc ác tính, dị vật đường thở; lao sơ nhiễm, áp xe phổi…
 
Thể lan tỏa thường do di chứng của các bệnh: sởi, ho gà, nhiễm vi-rút Arbo. Đặc biệt có một bệnh hiếm gặp là bệnh xơ tụy tạng nhầy kén, làm rối loạn tiết dịch gây nên nhiễm khuẩn tái phát dẫn đến giãn phế quản rất nặng, suy hô hấp mạn, bệnh nhân thường tử vong trước tuổi trưởng thành.
 
Giãn phế quản do hoá chất: người làm việc lâu ngày với các hoá chất bay hơi, hít phải hóa chất vào đường hô hấp, chúng gây kích thích, tăng tiết và tổn thương cấu trúc thành phế quản, gây ho và tăng áp lực trong lòng phế quản dẫn tới giãn phế quản.
 
Giãn phế quản bẩm sinh có thể gặp trong bệnh đa kén phổi, thường phối hợp với đa kén thận, tụy và gan; Suy giảm miễn dịch thể dịch toàn thể. Suy giảm miễn dịch tế bào: gặp trong hội chứng Kartagener, giãn phế quản phối hợp với đảo phủ tạng và viêm xoang sàng, xoang hang.

Triệu chứng, biểu hiện:

Chẩn đoán bệnh:

Xét nghiệm
 
1. Chụp X-quang phổi thẳng
 
Giúp chẩn đoán xác định giãn phế quản ở những trường hợp giãn phế quản nhiều, những trường hợp giãn phế quản ít hoặc giãn khu trú có thể không thấy trên phim chụp X-quang phổi thẳng. Khi đó các bệnh nhân đều được yêu cầu chụp cắt lớp vi tính ngực lớp mỏng, độ phân giải cao.
 
2. Chụp cắt lớp ngực
 
Hầu hết các bệnh nhân đều được yêu cầu chụp cắt lớp ngực để chẩn đoán xác định giãn phế quản. Bên cạnh đó, phim chụp cắt lớp ngực còn cho thấy vị trí chính xác vùng giãn phế quản. Chỉ những trường hợp giãn phế quản khu trú tại một thùy phổi mới có chỉ định mổ cắt bỏ vùng giãn phế quản đó.
 
3. Nội soi phế quản
 
Nhằm xác định nguyên nhân giãn phế quản. Khi nội soi, các bác sĩ thường sẽ quan sát sự thông thoáng trong lòng phế quản, tình trạng ứ đọng dịch, mủ. Hút các dịch này mang đi làm xét nghiệm có thể tìm thấy hình ảnh vi khuẩn gây đợt bội nhiễm của giãn phế quản, hoặc thấy hình trực khuẩn lao. Một số trường hợp giãn phế quản xuất hiện sau dị vật phế quản hoặc u phổi gây tắc lòng đường thở có thể được chẩn đoán xác định khi nội soi phế quản.
 
4. Các xét nghiệm vi sinh
 
Bệnh phẩm mang xét nghiệm là đờm, dịch phế quản. Các xét nghiệm được tiến hành bao gồm: xét nghiệm tìm vi khuẩn, trực khuẩn lao, các xét nghiệm PCR-BK, cấy MGIT...
 
5. Đo chức năng hô hấp
 
Nhằm đánh giá tình trạng rối loạn thông khí. Khoảng 50% số bệnh nhân giãn phế quản có rối loạn thông khí tắc nghẽn do sự thắt hẹp cơ trơn, phù nề và tăng tiết dịch. Những bệnh nhân này thường sẽ được điều trị với thuốc giãn phế quản và corticoid trong các đợt cấp.
 
6. Các xét nghiệm đánh giá chung
 
Như thành phần tế bào máu, chức năng gan, thận, đường máu, tình trạng đông máu, máu lắng...

Phòng ngừa:

- Không hút thuốc lá, thuốc lào, tránh môi trường có nhiều ô nhiễm, bụi khói.
- Vệ sinh răng miệng, tai mũi họng.
- Điều trị triệt để các đợt nhiễm trùng hô hấp làm giảm tần xuất xuất hiện giãn phế quản và ngăn ngừa tình trạng giãn phế quản đã có nặng thêm.
Nhiễm trùng hô hấp được xem là căn nguyên gây giãn phế quản. Các trường hợp nhiễm trùng tái lại nhiều lần có nguy cơ gây tổn thương phế quản không hồi phục (giãn phế quản). Bên cạnh đó, những đợt nhiễm trùng hô hấp ở những bệnh nhân giãn phế quản lại làm nặng thêm tình trạng giãn phế quản.
- Phát hiện sớm và điều trị các những trường hợp tắc, hẹp phế quản. Các nguyên nhân gây tắc hẹp phế quản bao gồm: lao nội phế quản, dị vật phế quản, u phổi gây chèn ép đường thở...
- Phát hiện và điều trị sớm dị vật, lao nội phế quản.
- Tiêm vắc-xin phòng hàng năm.
Việc tiêm vắc-xin phòng cúm hàng năm và vắc-xin phòng phế cầu 4 năm/lần làm giảm đáng kể tần xuất các đợt nhiễm trùng, do vậy làm chậm tốc độ xấu đi của bệnh lý giãn phế quản.
- Tránh ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà.
Luôn tạo môi trường không khí sạch và thoáng, tránh ẩm và lạnh. Nên giữ ấm vào mùa lạnh, tránh để ướt sàn nhà, bếp, thường xuyên bật quạt thông gió, sử dụng máy hút ẩm trong những ngày trời nồm.

Điều trị:

Bệnh giãn phế quản không thể điều trị khỏi hoàn toàn, các bệnh nhân thường chỉ đến viện mỗi khi có đợt cấp, việc điều trị tại bệnh viện do vậy chính là điều trị đợt bội nhiễm của giãn phế quản. Khi ở nhà, các bệnh nhân cần thường xuyên vỗ rung ngực và thực hiện các biện pháp ngăn ngừa đợt cấp.
Các điều trị giãn phế quản bao gồm:
 
1. Điều trị nội khoa
 
1.1. Dùng kháng sinh mỗi khi có đợt bội nhiễm của giãn phế quản
 
Các tiêu chí đánh giá đợt bội nhiễm của giãn phế quản bao gồm:
- Ho khạc đờm tăng.
- Khạc đờm mủ, màu xanh, hoặc màu vàng.
- Bệnh nhân giãn phế quản có hội chứng nhiễm trùng rõ sau khi đã loại trừ nhiễm trùng do căn nguyên khác.
Những trường hợp không có các dấu hiệu nêu trên, nhưng có ho máu cũng là chỉ định dùng kháng sinh.
- Thời gian dùng kháng sinh thường từ 10-15 ngày. Những trường hợp giãn phế quản rất nặng, thời gian dùng kháng sinh có thể kéo dài hơn, thậm chí tới 1 tháng.
 
1.2. Dẫn lưu đờm
 
Là liệu pháp điều trị rất quan trọng, có thể coi có tầm quan trọng như dùng kháng sinh, nhưng bệnh nhân lại hầu như không mất tiền. Các biện pháp dẫn lưu đờm thường hay dùng bao gồm:
Hướng dẫn cho bệnh nhân cách ho, khạc đờm sâu và vỗ rung lồng ngực, kết hợp dẫn lưu tư thế hàng ngày. Tùy theo vị trí giãn phế quản mà lựa chọn tư thế cho phù hợp với nguyên tắc vùng giãn phế quản được đặt ở vị trí cao nhất. Vùng giãn phế quản ở phía sau: bệnh nhân được đặt nằm xấp, vùng giãn phế quản ở phía trước: bệnh nhân được đặt nằm ngửa... Sau đó dùng hai bàn tay khum lại, vỗ đều vào ngực bệnh nhân. Kết hợp rung và lắc ngực. Mỗi lần làm kéo dài 15-20 phút, ngày làm từ 2-3 lần. Việc vỗ rung và dẫn lưu tư thế tiếp tục được duy trì tại nhà cho bệnh nhân. Nên đóng ghế vỗ rung để việc vỗ rung được thuận tiện hơn.
 
1.3. Điều trị hội chứng xoang phế quản nếu có (bệnh nhân giãn phế quản có kèm và viêm đa xoang mạn tính)
 
Có thể cho bệnh nhân uống erythromycine 10 mg/kg/ngày, chia 2 lần, kéo dài từ 6-24 tháng nếu bệnh nhân không bị các tác dụng phụ của thuốc. Không dùng đồng thời với Theophyllin hoặc các thuốc cùng nhóm xanthin do gây xoắn đỉnh.
 
1.4. Điều trị triệu chứng
 
- Khi bệnh nhân có khó thở, nghe phổi có ran rít, ngáy, bệnh nhân thường được dùng thêm các thuốc giãn phế quản dùng đường uống hoặc khí dung hoặc kết hợp cả hai. Các thuốc có thể được dùng bao gồm: salbutamol, terbutaline, thuốc kháng cholinergic, theophylline, bambuterol...
- Khi bệnh nhân có ho máu:
Bệnh nhân thường được dùng kháng sinh, dùng thuốc cầm máu, an thần. Trường hợp ho máu nặng, bệnh nhân có thể cần được thở oxy, đặt nội khí quản hoặc nội soi phế quản để hút máu đọng. Truyền máu khi có thiếu máu.
Những trường hợp ho máu không điều trị hiệu quả với thuốc cần được chỉ định chụp động mạch phế quản và xét nút tắc động mạch phế quản gây chảy máu.
 
1.5. Điều trị nội soi
 
Soi phế quản ống mềm để chẩn đoán vị trí chảy máu, giải phóng đờm dịch, giải phóng dị vật gây tắc phế quản. Trong quá trình soi tiến hành hút dịch phế quản làm xét nghiệm vi sinh vật, bơm rửa lòng phế quản.
 
2. Phẫu thuật
 
Chỉ định cắt phân thuỳ, thuỳ hoặc cả bên phổi cho những trường hợp giãn phế quản khu trú; giãn phế quản có ho máu nặng hoặc ho máu tái phát.

Biến chứng:

+ Viêm phổi tái diễn ở vùng phế quản giãn.
+ Tràn dịch màng phổi
+ Ápxe phổi, nhất là khi giãn phế quản ở thuỳ lưỡi vì mủ trong các phế quản giãn ở vùng này khó được dẫn lưu ra ngoài.
+ Suy hô hấp mãn và tâm phế mãn.

Chế độ chăm sóc:

Giãn phế quản là bệnh viêm phế quản mạn tính, làm tổn hại thành phế quản dẫn đến phế quản bị giãn và biến dạng, thường gặp nhiều ở thanh thiếu niên. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là ho kéo dài mạn tính, khạc ra đờm và cả máu.
 
Bệnh nhân giãn phế quản nên ăn những thực phẩm gì?
 
Bệnh nhân nên chọn ăn các loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, thanh đạm dễ tiêu hóa. Thực phẩm chính nên chọn là bột mì, gạo, đậu Hà Lan, kiều mạch, hạt ý dĩ, tốt nhất là xay thành bột nấu cháo. Cũng có thể chọn ăn sữa bò, sữa đậu nành, đậu phụ, trứng gà… là những thực phẩm vừa thanh đạm, lại giàu protein.
 
Củ sắn, bắp cải, mướp, bầu bí, dưa hấu, ngó sen, lê, quýt, táo, bách hợp (actisô), dứa, mía, hồng, đào… là những thứ giàu vitamin và chất khoáng, cần chọn ăn để bù đắp sự tiêu hao.
 
Người bệnh khạc ra máu nên ăn nhiều ngó sen, mã thầy, có tác dụng bổ trợ cầm máu. Ngoài ra hạnh nhân, hạt bí đao, hạch đào nhân có tác dụng nhuận phổi giảm ho, có thể dùng ăn vặt hàng ngày.
Người bệnh giãn phế quản nên kiêng ăn những thứ gì?
 
Cúng giống như đối với bệnh phổi khác, người bệnh giãn phế quản nên hạn chế hoặc kiêng ăn những thực phẩm sau:
 
- Kiêng ăn thực phẩm cay gây kích thích và nhiều mỡ ngấy: như ớt, hạt cải, hạt tiêu, món quay rán, thịt hun khói, mỡ động vật … vì loại thực phẩm này kích thích niêm mạc khí quản gây ho. Mỡ chiên rán và mỡ động vật khó tiêu, cần nhiều oxy, làm cho phổi phải làm việc nặng hơn.
 
- Kiêng rượu: vì chức năng lưu thông không khí ở phổi của bệnh nhân đã kém, rượu có tác dụng làm tê liệt trung khu hô hấp, dễ xuất hiện tình trạng khó thở và ngừng thở, nguy hiểm đến tính mạng.
 
- Kiêng ăn uống đồ lạnh: vì bị kích thích lạnh, họng sẽ bị viêm, gây ho, làm cho bệnh tăng nặng.

Bài thuốc dân gian: