Bụi phổi silic

14/11/2016 09:47:49

Bệnh bụi phổi-silic là tình trạng bệnh lý của phổi do hít phải bụi có chứa silic trong môi trường lao động. 

Bệnh bụi phổi-silic là tình trạng bệnh lý của phổi do hít phải bụi có chứa silic trong môi trường lao động. Đặc điểm của bệnh là xơ hóa và phát triển các hạt ở 2 phổi gây khó thở. Về X-quang, phổi có hình ảnh tổn thương đặc biệt.
 
Bệnh bụi phổi-silic nghề nghiệp là bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất trong 28 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm hiện nay ở nước ta. Tính đến cuối năm 2011, tổng số bệnh nghề nghiệp mắc của Việt Nam là 27.246 trường hợp, trong đó bệnh bụi phổi-silic chiếm tới 74,40%.
 

Nguyên nhân:

Tinh thể silic tự do (SiO2) là một trong những loại khoáng chất thường gặp nhất trong vỏ trái đất. Nó được tìm thấy trong cát, trong nhiều loại đá như đá granite, sa thạch, đá lửa, đá phiến và một số loại quặng than đá và kim loại.

Khi hít phải tinh thể silic từ bụi trong 'nghề nghiệp' đang làm cũng được xem là tác nhân gây ung thư phổi. Bệnh bụi phổi silic là một bệnh mạn tính do nghề nghiệp tiếp xúc với bụi qua một thời gian dài (từ 5 – 10 năm).

Các yếu tố, nguy cơ:

Những người làm các công việc tiếp xúc với bụi silic tự do chủ yếu như:
- Khai thác quặng đá có chứa silic tự do.
- Đẽo mài đá có chứa silic tự do.
- Tán, nghiền, sàng các quặng đá chứa silic tự do.
- Công việc đúc tiếp xúc với bụi cát khuôn, làm sạch vật đúc.
- Làm sạch hoặc làm nhẵn vật bằng tia cát.
- Sản xuất, chế biến thủy tinh, gạch chịu lửa, đồ gốm…

Triệu chứng, biểu hiện:

Ở giai đoạn bệnh bụi phổi-silic sơ phát với tổn thương hạt nhỏ thường không có triệu chứng. Bệnh được phát hiện qua chụp X quang trong đợt khám sức khoẻ định kỳ hoặc vì một lý do khác.
 
Khó thở gắng sức là triệu chứng cơ bản và hầu như triệu chứng duy nhất đặc hiệu của bệnh có thể do xơ phổi hoặc khí thũng. Lâu ngày, khó thở trở thành thường xuyên.
 
Thông thường không có triệu chứng chủ quan nào khác.
 
Khó thở gắng sức xuất hiện muộn, sau các hình ảnh X quang.
 
- Ho và khạc đờm: Ho và khạc đờm là triệu chứng viêm phế quản.
 
Thể trạng bệnh nhân giảm sút thường do các nguyên nhân khác, hoặc là ở giai đoạn quá muộn.
 
- Ho ra máu: rất hiếm gặp trong bệnh bụi phổi - sllic nếu có ho ra máu, phải tìm cách xác định bệnh lao.
 
- Khạc đờm Đen: Đờm đen, lỏng, gặp ở công nhân mỏ than, nhưng cũng không thường xuyên.
 
- Đau ngực: Dấu hiệu này cũng hay gặp.
 
Khi bệnh bụi phổi - silic phát triển và có biến chứng sẽ xuất hiện nhiều triệu chứng lâm sàng khác. Mỗi biến chứng lại có những triệu chứng riêng.
 
Đối với bệnh bụi phổi - silic cấp tính: Khó thở bắt đầu đột ngột, tiến triển nhanh là triệu chứng chủ yếu, Có thể sốt, tử vong có thể nhanh trong vài tháng.

Chẩn đoán bệnh:

Người lao động được xét chẩn đoán phải là người có tiếp xúc với bắt buộc với bụi có nồng độ, số lượng và kích thước hạt, hàm lượng silic tự do vượt quá giới hạn cho phép.
- Phải có thời gian tiếp xúc với bụi ít nhất 5 năm, cá biệt dưới 5 năm (phải được hội chẩn giữa các thầy thuốc chuyên khoa).
- Hình ảnh tổn thương trên X-quang, có hạt xilicô (theo bảng phân loại quốc tế chia ra các thể p, q, r, … xác định theo phim và cần đối chiếu với phim mẫu quốc tế của ILO).
- Một số dấu hiệu khác như khó thở khi gắng sức, đau tức ngực, hội chứng tắc nghẽn phổi và hội chứng hạn chế.

Phòng ngừa:

1. Biện pháp kỹ thuật
 
- Tránh sản xuất trong điều kiền bụi silic bằng cách thay thế.
- Tránh bụi bay tung lên bằng cách thực hiện sản xuất trong chu trình kín hoặc có hệ thống thống hút gió tại chỗ.
- Cơ giới hoá sản xuất, tránh lao động gắng sức cao, hô hấp tăng làm cho bụi tăng cừờng xâm nhập phổi.
- Chú ý tổ chức hệ thống không khí, thoáng gió, che đậy các máy móc phát sinh bụi.
- Nổ mìn vào cuối ca lao động.
 
2. Biện pháp cá nhân
 
- Đeo các khẩu trang ngăn bụi. Phần lớn các loại khẩu trang đang sử dụng không có hiệu quả lọc bụi hô hấp.
- Có thể dùng mặt nạ lọc bụi, nhưng phải nhẹ, thở hít dễ dàng, tránh cọ xát, vật liệu làm mặt nạ không gây kích thích da, không gây dị ứng.
Các loại hạt bụi dưới l micromet khó ngăn lại ở các màng lọc.
Nói chung, khi lao động nặng nhọc về mùa hè ở xứ nóng, việc đeo mặt nạ sẽ rất khó chịu, ảnh hưởng tới lao động.
 
3. Biện pháp y tế
 
- Phải thường kỳ kiểm tra môi trường lao động.
- Phải tổ chức khám tuyển công nhân và lao động ở các hầm mỏ và các ngành công nghiệp nhiều bụi.
- Phải tổ chức khám định kỳ hàng năm. Nơi nào bụi có hàm l¬ượng silic tự do cao hay những công nhân phun cát đánh bóng, làm sạch, xay khoáng sản (thạch anh) phải khám định kỳ 6 tháng một lần.

Điều trị:

Các loại thuốc chữa triệu chứng và nâng cao thể trạng, giúp làm giảm, ngừng tiến triển bệnh.
- Điều trị viêm phế quản mạn tính: Dùng các thuốc kháng sinh, long đờm, giảm ho.
- Trong biến chứng suy tim: Dùng digital, lợi tiểu, nghỉ ngơi, ăn nhạt.
- Trong suy hô hấp phải cho thở ôxy.
- Thuốc bổ dưỡng nâng cao thể trạng, các loại sinh tố...

Biến chứng:

Bệnh bụi phổi silic có 3 biến chứng chủ yếu đều là nguyên nhân gây tử vong: lao phổi, suy hô hấp và nhiễm khuẩn cấp tính phế quản phổi.
 
1. Lao phổi
 
Ngay cả ngày nay lao phổi vẫn còn là nguyên nhân tử vong trong l/3 số trường hợp và là biến chứng hay gặp nhất.
 
2. Suy hô hấp
 
Suy hô hấp phần lớn do biến đổi xơ hoá và khí thũng rộng thường kèm theo tâm phế mạn (chronic cor pulmonale) do huyết áp cao ở tiểu tuần hoàn, hậu quả của sự phá hủy phần lớn giường mạch và của sự co thắt mao quản vì giảm ôxy huyết.
 
3. Nhiễm khuẩn phế quản phổi cấp tính
 
Viêm phế quản phổi cấp tính là hậu quả của viêm phế quản mãn phối hợp với bệnh bụi phổi - silic ở giai đoạn phát triển. Hiện nay, đây là biến chứng hay gặp nhất. Dù có nhiều loại kháng sinh, biến chứng này vẫn là nguyên nhân tử vong chủ yếu.
 
Ngoài các biến chứng kể trên, còn gặp các biến chứng khác như tràn khí phế mạc, hoại tử vô khuẩn, viêm phế quản mãn...

Chế độ chăm sóc:

Bài thuốc dân gian: