Các bệnh dị ứng

14/11/2016 09:47:29
Dị ứng là bệnh thường gặp, xảy ra quanh năm, gặp ở mọi lứa tuổi.
 
 
Dị ứng là bệnh thường gặp, xảy ra quanh năm, gặp ở mọi lứa tuổi.
Dị ứng là một rối loạn quá mẫn của hệ miễn dịch. Phản ứng dị ứng xảy ra để chống lại các chất vô hại trong môi trường được gọi là chất gây dị ứng, các phản ứng này xảy ra nhanh chóng và có thể dự đoán được.
Thực tế, dị ứng là 1 trong 4 hình thức của chứng quá mẫn cảm và được gọi là quá mẫn loại I (xảy ra tức thì). Nó kích hoạt quá mức các tế bào bạch cầu mast và một loại kháng thể được gọi là IgE, dẫn đến một phản ứng viêm nặng, thông thường bao gồm chàm, phát ban, sốt, lên cơn hen, ngộ độc thức ăn, và phản ứng với nọc độc của côn trùng chích như ong, muỗi, kiến...
 
Dị ứng nhẹ rất phổ biến, gây ra các triệu chứng như viêm kết mạc dị ứng, ngứa và chảy nước mũi. Ở một số người, dị ứng nặng với các chất gây dị ứng trong môi trường và thức ăn hoặc một số loại thuốc y dược có thể gây phản ứng phản vệ (sốc phản vệ) đe dọa đến tính mạng.
Để chẩn đoán chứng dị ứng, người ta phải thực hiện các xét nghiệm trên da để xem mức độ phản ứng với các chất gây dị ứng hoặc phân tích máu kiểm tra sự hiện diện và nồng độ của kháng thể IgE. Điều trị dị ứng bao gồm tránh tiếp xúc với các tác nhân gây dị ứng, sử dụng các thuốc chống dị ứng, steroid (thuốc kháng viêm) hoặc các loại thuốc khác.
 
 

Nguyên nhân:

Thời gian gần đây tỷ lệ mắc các rối loạn dị ứng mà không thể được giải thích bằng yếu tố di truyền đang có chiều hướng gia tăng là do 4 thay đổi chính trong môi trường sống hiện nay: tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm trong thời thơ ấu, ô nhiễm môi trường, các loại chất gây dị ứng, và chế độ ăn uống thay đổi.
1. Dị ứng thực phẩm
Một trong những bệnh dị ứng thực phẩm phổ biến nhất là nhạy cảm với đậu phộng (lạc). Dị ứng đậu phộng có thể rất nghiêm trọng, đặc biệt đối với trẻ em ở tuổi đi học. Các loại hạt, bao gồm hồ đào, quả hồ trăn, hạt thông, quả óc chó là các chất gây dị ứng thông thường. Những người mắc bệnh có thể nhạy cảm với một, hoặc nhiều loại hạt cây.
Sữa bò, dê, cừu cũng là một thực phẩm phổ biến gây dị ứng, và nhiều người bị còn mẫn cảm với các sản phẩm sữa như pho mát. Nguyên nhân là do cơ thể không dung nạp lactose.
Các loại thực phẩm khác có chứa các protein gây dị ứng bao gồm đậu nành, lúa mì, cá (ngừ..), hải sản (cua, ghẹ, tôm, sò, ốc...), trái cây (bơ, sầu riêng...), rau, gia vị (bột ngọt, tiêu), màu tổng hợp và tự nhiên, hóa chất phụ gia và gà.
2. Dị ứng với các tác nhân không phải là thực phẩm
Nhựa cao su (latex) có thể gây ra phản ứng da, hô hấp, và hệ thống trung gian IgE. Tỷ lệ dị ứng cao su trong dân số được cho là ít hơn 1%. Trong một nghiên cứu, 1 trong 800 bệnh nhân phẫu thuật (0,125%) báo cáo có nhạy cảm với cao su, mặc dù mức độ nhạy cảm của các nhân viên y tế đối với cao su cao hơn, từ 7-10%.
Phản ứng phổ biến nhất với latex là viêm da tiếp xúc dị ứng, các phản ứng xuất hiện như da bị khô và tổn thương vùng tiếp xúc. Phản ứng này thường kéo dài 48-96 giờ. Ra mồ hôi hoặc cọ xát ở khu vực đeo găng tay làm các tổn thương trầm trọng thêm, có thể dẫn đến loét phản ứng.
Bệnh nhân bị dị ứng với cao su cũng có thể có nhạy cảm với quả bơ, kiwi, và hạt dẻ, những bệnh nhân này thường bị ngứa và nổi mề đay cục bộ. Chỉ thỉnh thoảng có những dị ứng thức ăn gây ra các phản ứng hệ thống.
3. Cơ sở di truyền
Có khoảng 70% các cặp song sinh cùng trứng bị các bệnh dị ứng chung, 40% các cặp song sinh khác trứng có cùng 1 loại dị ứng.
Cha mẹ mắc các bệnh dị ứng, thì con cái của họ nguy cơ bị dị ứng cao hơn so với các trẻ khác.
Một số dị ứng, tuy nhiên lại không cùng kiểu gen; ví dụ cha mẹ bị dị ứng với đậu phộng thì con có thể bị dị ứng với cỏ phấn hương. Có nghĩa là khả năng phát triển bệnh dị ứng được kế thừa và liên quan đến một bất thường trong hệ thống miễn dịch, nhưng các chất gây dị ứng cụ thể thì không có tính kế thừa.
Nguy cơ dị ứng nhạy cảm và phát triển các bệnh dị ứng khác nhau với từng độ tuổi, một số nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ IgE cao nhất trong thời thơ ấu và giảm nhanh chóng trong độ tuổi từ 10 đến 30.
Yếu tố chủng tộc cũng liên quan, người ta cho rằng di truyền là nguyên nhân gây bệnh hen suyễn ở những người châu Á, Tây Ban Nha, và những người gốc châu Phi.
4. Giả thuyết về vấn đề vệ sinh
Các bệnh dị ứng là do phản ứng miễn dịch không thích hợp với kháng nguyên vô hại của một phản ứng miễn dịch qua trung gian TH2. Các vi khuẩn và virus trước hết sẽ gây ra một đáp ứng miễn dịch không qua trung gian TH1 sau đó mới chuyển sang phản ứng TH2. Vì cơ thể chúng ta tiến hóa để đối phó với một mức độ nhất định các tác nhân gây bệnh, cho nên khi một cá nhân sống trong môi trường vô trùng không tiếp xúc với các cấp độ gây bệnh, hệ miễn dịch sẽ tấn công các kháng nguyên vô hại và vì thế các đối tượng lành tính như phấn hoa cũng gây kích hoạt một phản ứng miễn dịch TH2.
Các giả thuyết về vấn đề vệ sinh hình thành để giải thích các kết quả khi quan sát về dị ứng phấn hoa và bệnh chàm. Người ta thấy rằng trẻ em ở các gia đình 1 con dễ mắc các bệnh dị ứng này nhiều hơn trẻ em ở các gia đình đông con. Các giả thuyết này đã được rộng rãi điều tra dịch tễ học và đã trở thành một khung lý thuyết quan trọng cho việc nghiên cứu các rối loạn dị ứng. Nó được sử dụng để giải thích sự gia tăng các bệnh dị ứng đã được nhìn thấy kể từ khi công nghiệp hóa, và tỷ lệ mắc các bệnh dị ứng cao ở các nước phát triển.
5. Các yếu tố môi trường
Các nước công nghiệp tỷ lệ người mắc bệnh cao hơn so với các nước có truyền thống nông nghiệp, ở các thành phố, đô thị có tỷ lệ người bị dị ứng cao hơn so với nông thôn.
Tiếp xúc với các độc tố làm các tế bào bạch cầu trong máu giảm sản xuất các cytokine kháng viêm như TNF-α, IFNγ, interleukin-10, và interleukin-12.
Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng một số ký sinh trùng, chẳng hạn như giun đường ruột (ví dụ như giun móc), có thể tiết ra chất hóa học vào thành ruột sau đó thẩm thấu vào mạch máu để đàn áp hệ miễn dịch và ngăn chặn cơ thể tấn công chúng. Điều này đưa đến một giả thuyết rằng lý thuyết đồng sự tiến hóa của con người và ký sinh trùng đã dẫn đến một hệ thống miễn dịch cân bằng. Nếu không có các ký sinh trùng này, hệ miễn dịch trở nên không cân bằng và quá nhạy cảm. Tuy nhiên, các nghiên cứu để hỗ trợ lý thuyết này là trái ngược nhau, với một số nghiên cứu thực nghiệm tại Trung Quốc và Ethiopia cho thấy sự gia tăng dị ứng ở những người bị nhiễm giun đường ruột.
 
 

Các yếu tố, nguy cơ:

Dị ứng là căn bệnh chứa đựng nhiều bí ẩn khoa học chưa tường, vì lý do này nên hiệu quả điều trị còn thấp. Mới đây, các nhà khoa học còn phát hiện thấy 9 tác nhân làm gia tăng bệnh.
1. Rượu, chất kích thích
Rượu có thể làm tăng nguy cơ dị ứng tới 3%. Lý do là đồ uống có cồn như bia, rượu đều chứa histamine và sulfite. Đây là những chất hóa học có thể tạo ra các triệu chứng dị ứng, hiện tượng thường thấy là ngạt và ngứa mũi.
Gần đây, các nhà nghiên cứu còn phát hiện thấy quá trình lên men nho sản xuất rượu vang cũng có chứa glycoprotein, loại protein bọc đường có thể làm cho hệ miễn dịch của cơ thể phản ứng dị ứng với bụi, phấn hương, làm tăng dị ứng. Vì lý do này, mọi người hãy hạn chế rượu, nhất là uống rượu trước khi đi ngủ.
2. Sợi tổng hợp
Sợi tổng hợp là vật liệu có khả năng nạp tĩnh điện, có độ ẩm cao nên hút phấn hoa mạnh hơn so với sợi tự nhiên, tạo môi trường cho nấm mốc phát triển.
Để hạn chế nguy cơ gây bệnh, nên dùng các loại trang phục dệt từ sợi tự nhiên: bông, vải thô dễ giặt, dễ phơi khô để giảm nguy cơ giữ bụi, giữ ẩm.
3. Do bụi bẩn con người mang theo về nhà
Nếu đi giày dép có nhiều bụi bẩn mang theo vào nhà, vào phòng ngủ sẽ làm tăng nguy cơ gây dị ứng. Nên để giày dép ở ngoài, giữ gìn vệ sinh phòng ở sạch sẽ để giảm tới trên 50% nguy cơ mắc bệnh.
4. Chỉ tắm vào buổi sáng
Những người có thói quen tắm vào buổi sáng sớm mà không tắm buổi tối cũng dễ bị dị ứng. Các môi chất gây bệnh bám vào người sau một ngày lao động nếu không tắm vào cuối ngày sẽ không làm sạch hết, nhất là nhóm người phải tiếp xúc nhiều trong môi trường nóng bức, với nhiều môi chất gây bệnh.
5. Stress
Những người sống căng thẳng, lo lắng, buồn rầu mà người ta quen gọi là hiệu ứng stress là nhóm dễ bị dị ứng nhất. Đơn giản, các loại hormone stress của cơ thể sẽ bài tiết ra nhiều các chất IgE - một kháng thể gây dị ứng.
Hiện tượng thường thấy như hắt hơi, ngứa mắt và các triệu chứng khó chịu khác. Để giảm bệnh, nên tìm cách quản lý tốt stress, làm việc khoa học, tăng cường luyện tập và duy trì thực đơn cân bằng khoa học, chú trọng đến rau xanh, hoa quả và uống nhiều nước.
6. Thủ phạm từ phòng ngủ
Hàng ngày chúng ta phải dành một khoảng thời gian lớn để ngủ, ít nhất 8 giờ/đêm và nếu thời gian này hít thở không khí không trong lành rất dễ gây bệnh.
Nên vệ sinh phòng ngủ sạch sẽ, không nên cho động vật cảnh vào phòng ngủ hoặc cho chúng ngủ chung. Phòng ngủ nên thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, đảm bảo đủ độ ẩm và thảm trải sàn phải sạch sẽ.
7. Động vật cảnh
Theo thống kê tại Mỹ, có ít nhất 10% dân số bị dị ứng với động vật, 30% khác mắc các chứng dị ứng có liên quan tới động vật cảnh, nhất là từ lông chó, mèo. Lông của các loại động vật này rất kết dính, dễ gây bệnh về đường hô hấp.
Vì lý do trên nên hạn chế tiếp xúc, nên tắm thường xuyên cho động vật, nên có khu riêng biệt để nhốt chúng, không nên cho chúng ở chung với người, nên tiêm phòng đầy đủ theo khuyến cáo của chuyên môn.
8. Ô nhiễm không khí
Những người sống tại các khu đô thị có mức ô nhiễm không khí cao hơn những nơi khác và dễ mắc bệnh dị ứng.
Ngoài ra phải kể đến những người làm việc trong các trang trại chăn nuôi, trồng trọt, tiếp xúc nhiều với không khí ô nhiễm từ động vật, từ phấn hoa. Khi làm việc nên mang quần áo phòng hộ, khẩu trang. Nếu sống trong môi trường ô nhiễm cao cần đóng kín cửa, đêm ngủ nên duy trì độ ẩm phòng thích hợp.
9. Dùng nước hoa, nến thơm
Nước hoa, nến có mùi thơm khi dùng trong môi trường kín cũng là thủ phạm gây dị ứng rất cao bởi chúng có chứa các thành phần gây kích thích mũi, gây khô mũi, khó thở và nếu tiếp xúc dài kỳ có thể gây viêm mũi, viêm xoang.
Để hạn chế, nên dùng nến không có mùi thơm, hạn chế dùng nước hoa trong môi trường kín. Nghiên cứu cho thấy, dùng nến không có mùi thơm có thể giảm được tới 90% các chất gây dị ứng.
 

Triệu chứng, biểu hiện:

Nhiều chất gây dị ứng là các hạt trong không khí như bụi hoặc phấn hoa. Trong những trường hợp này, các triệu chứng phát sinh tại khu vực tiếp xúc với không khí, chẳng hạn như mũi, mắt và phổi. Ví dụ, viêm mũi dị ứng, nguyên nhân gây kích ứng mũi, hắt hơi, ngứa và đỏ mắt. Hít chất gây dị ứng cũng có thể dẫn đến các triệu chứng hen, do thu hẹp đường hô hấp (co thắt phế quản), phổi bị tiết dịch nhầy, khó thở, ho và thở khò khè.
Ngoài những chất gây dị ứng trong không khí, nguyên nhân gây phản ứng dị ứng có thể do một số loại thực phẩm, do côn trùng đốt, hay phản ứng với các thuốc như aspirin và thuốc kháng sinh như penicillin. Các triệu chứng của dị ứng thực phẩm (ngộ độc thực phẩm) bao gồm đau bụng, đầy hơi, nôn mửa, tiêu chảy, da phát ban, ngứa và sưng. Dị ứng thực phẩm hiếm khi gây ra hô hấp (hen) phản ứng, hay viêm mũi.
Bị côn trùng đốt, hay dị ứng thuốc kháng sinh và một số loại thuốc nhất định có thể gây ra một phản ứng dị ứng rất nguy hiểm còn gọi là sốc phản vệ, nhiều cơ quan trong cơ thể có thể bị ảnh hưởng, bao gồm hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, và hệ tuần hoàn. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng, sốc phản vệ có thể gây ra các phản ứng ngoài da, co thắt phế quản, phù nề, hạ huyết áp hôn mê và tử vong.
 
 

Chẩn đoán bệnh:

Trước khi chẩn đoán chắc chắn bệnh nhân bị dị ứng, cần lưu ý các dấu hiệu phản ứng xuất hiện cũng có thể do các nguyên nhân khác. Khi chẩn đoán các bệnh hen suyễn, viêm mũi, sốc phản vệ, hoặc các dị ứng khác, người ta sẽ có một số phương pháp để phát hiện các tác nhân gây bệnh dị ứng đó.
1. Kiểm tra phản ứng trên da
Để đánh giá sự hiện diện của chất gây dị ứng tức là kháng thể IgE đặc hiệu, tét dị ứng da là ưu tiên hơn các xét nghiệm dị ứng trong máu bởi vì nó nhạy và cụ thể hơn, thao tác đơn giản, và ít tốn kém. Một lượng nhỏ các chất gây dị ứng bị nghi ngờ hoặc các chất chiết xuất (từ phấn hoa, cỏ, đậu phộng,...) được tiêm bằng ống tiêm hoặc dùng 1 miếng kim loại hay nhựa đâm nhẹ vào các ô nhỏ trên da, các ô này đã được đánh dấu bằng bút mực màu (loại mực dùng cho bút nên được lựa chọn cẩn thận, vì nó cũng có thể gây ra một phản ứng dị ứng riêng). Nếu bệnh nhân bị dị ứng với chất nào trong những chất thử thì phản ứng viêm có thể nhìn thấy (da ửng đỏ) sẽ xuất hiện trong vòng 30 phút sau.
2. Xét nghiệm máu
Các phương pháp thử máu cũng phát hiện dị ứng với các chất cụ thể. Xét nghiệm về mức độ của IgE có trong huyết thanh của bệnh nhân. Điều này có thể được xác định thông qua việc sử dụng phương pháp phóng xạ miễn dịch và phép đo màu. Xét nghiệm phóng xạ bao gồm các xét nghiệm như phương pháp thử (Rast), trong đó sử dụng kết nối IgE (kháng IgE) các kháng thể có gắn nhãn bằng các đồng vị phóng xạ để xác định số lượng các cấp độ của kháng thể IgE trong máu. Các phương pháp khác sử dụng công nghệ mới so sánh màu sắc tại nơi có đồng vị phóng xạ.
 
 

Phòng ngừa:

Điều trị:

Điều trị và phòng bệnh dị ứng chỉ đơn giản là tránh hoặc giảm tiếp xúc với các chất gây dị ứng. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân bị dị ứng với phấn hoa hoặc các chất truyền dẫn trong không khí thì việc tránh tiếp xúc này rất khó thực hiện.
1. Liệu pháp dùng thuốc
Một số thuốc đối kháng được sử dụng để ngăn chặn dị ứng, hoặc tránh kích hoạt các tế bào và các quá trình gây dị ứng. Chúng bao gồm thuốc kháng histamine, glucocorticoid, epinephrine (adrenaline), theophylline và natri cromolyn.
2. Liệu pháp miễn dịch
Bệnh nhân được tiêm các chất gây dị ứng với liều tăng dần. Điều này có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng hoặc loại bỏ hoàn toàn quá mẫn. Liệu pháp này làm lệch tiến độ sản xuất kháng thể IgG, để ngăn chặn sản xuất quá mức IgE trong atopy. Các nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả lâu dài và hiệu quả phòng ngừa của liệu pháp miễn dịch trong việc làm giảm sự phát triển của dị ứng mới.
Một hình thức thứ hai của miễn dịch liên quan đến việc tiêm tĩnh mạch các kháng thể kháng IgE đơn dòng. Các kháng thể này sẽ gắn kết với các kháng thể IgE tự do hoặc IgE đã liên kết với tế bào B. Tuy nhiên, kháng thể kháng IgE sẽ không gắn kết với các IgE đã liên kết với thụ thể Fc trên basophils và các tế bào mast, vì điều này sẽ kích thích các phản ứng dị ứng.
Một dạng thứ ba là miễn dịch dưới lưỡi, là một liệu pháp đường miệng, lợi dụng sự miễn dịch yếu đối với các kháng nguyên không gây bệnh như các loại thực phẩm và vi khuẩn thường trú. Liệu pháp này hiện đang chiếm 40% các trị liệu dị ứng ở châu Âu.
 
 

Biến chứng:

Chế độ chăm sóc:

Bài thuốc dân gian: