Viêm khớp dạng thấp

14/11/2016 09:47:31
Viêm khớp dạng là một căn bệnh liên quan đến hệ thống tự miễn dịch mà nguyên nhân chính là do viêm nhiễm mạn tính dịch khớp.
Viêm khớp dạng là một căn bệnh liên quan đến hệ thống tự miễn dịch mà nguyên nhân chính là do viêm nhiễm mạn tính dịch khớp.
Bệnh tự miễn là trình trạng hệ miễn dịch của cơ thể hoạt động chống lại chính các mô tế bào khỏe mạnh của cơ thể.
Với bệnh viêm khớp dạng thấp, lớp màng hoạt dịch khớp chính là đối tượng bị tấn công và tổn thương, do chính hệ miễn dịch của cơ thể gây ra.

Nguyên nhân:

Người ta vẫn chưa xác định được nguyên nhân cụ thể gây ra bệnh thấp khớp, nhưng rất có thể đây là một căn bệnh di truyền.

Các yếu tố, nguy cơ:

1. Độ tuổi: Theo thống kê, có khoảng 1/2 số người từ 65 tuổi mắc bệnh viêm khớp, trong khi đó chỉ có 1 trong 250 trẻ em bị bệnh này.
2. Gen: Nếu gia đình có cha mẹ hoặc họ hàng bị bệnh thấp khớp thì nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn. 3. Giới tính: Các thống kê đã chỉ ra rằng nam giới có nguy cơ mắc bệnh gout cao hơn nữ giới, trong khi đó nữ giới lại dễ mắc bệnh viêm khớp hơn nam giới
4. Hút thuốc: Các nghiên cứu đã xác nhận mối liên quan trực tiếp giữa hút thuốc và bệnh viêm khớp. Các nghiên cứu tại Thuỵ Điển đã chỉ ra rằng những người hút thuốc làm tăng 21% nguy cơ mắc viêm khớp.
5. Nghề nghiệp: Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để tìm ra mối liên quan giữa các dạng của bệnh thấp khớp và nghề nghiệp, và thấy rằng những người làm nghề sơn sửa móng tay chân, thợ sơn, thường xuyên sử dụng acetone và thuốc trừ sâu dễ mắc bệnh viêm khớp hơn. Nghiên cứu gần đây tại Thụy Điển chỉ ra rằng những người thường xuyên tiếp xúc với các loại xăng dầu tăng 30% nguy cơ mắc bệnh thấp khớp.

6. Chế độ ăn: Cơ thể thừa cân và béo phì làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp, vì thế cần điều chỉnh cân nặng hợp lý. Việc sử dụng thực phẩm giàu chất béo bão hoà, thiếu chất chống ôxy hóa, các vitamin và chất khoáng cần thiết làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Triệu chứng, biểu hiện:

Chẩn đoán bệnh:

Các thầy thuốc thường phải dựa vào 7 yếu tố sau để chẩn đoán bệnh này:
- Cứng các khớp và xung quanh khớp kéo dài ít nhất 1 giờ vào buổi sáng sau khi ngủ dậy.
- Tự nhiên (không do chấn thương) bị sưng khớp hoặc tụ dịch khớp của ít nhất 3 khớp.
- Ít nhất có một khớp nhỏ bị sưng (khớp cổ tay, khớp bàn hoặc khớp ngón tay).
- Biểu hiện của viêm các khớp đối xứng trên cơ thể.
- Có 'nốt thấp', là các cục sờ thấy dưới da, nằm ở vị trí chịu lực của cơ thể (thường là ở khớp khuỷu).
- Chỉ số yếu tố thấp (RF) cao bất thường khi làm xét nghiệm.
- Sự thay đổi biến dạng khớp thấy được trên Xquang tại những khớp bị viêm. Đây là yếu tố đặc trưng của giai đoạn muộn trong bệnh viêm khớp dạng thấp.
Khi có ít nhất 4 trong 7 yếu tố trên, và yếu tố xuất hiện đầu tiên đã lâu trên 6 tuần thì người bệnh được coi là bị bệnh viêm khớp dạng thấp.

Phòng ngừa:

Điều trị:

Sử dụng đúng thuốc chữa bệnh thấp khớp
Các thuốc chữa thấp khớp phần lớn đều là các thuốc giảm đau, chống viêm, có tác dụng làm giảm quá trình sưng, đau khiến cho dễ vận động hơn. Những thuốc này ngoài tác dụng chữa bệnh còn có khá nhiều các tác dụng phụ có hại như gây chóng mặt, buồn nôn, nổi mẩn ngứa, chảy máu, lên cơn hen... đặc biệt là tác dụng đối với dạ dày: làm tăng cơn đau, nôn, chảy máu dạ dày, thủng dạ dày...
Do đó, khi dùng các thuốc chống thấp khớp phải tự theo dõi, nếu thấy có tác dụng phụ thì cần ngừng ngay thuốc và hỏi thầy thuốc để được chỉ dẫn tiếp tục.
Một số bệnh nhân và thầy thuốc thường có xu hướng lạm dụng thuốc thuộc nhóm cortison (prednison, dexamethason...) như dùng kéo dài, liều cao. Điều đó gây ra rất nhiều tai biến do các tác dụng phụ như: chảy máu và thủng dạ dày, lên cơn cao huyết áp, dễ nhiễm khuẩn, tăng đường trong máu (bệnh đái tháo đường), biến dạng cơ thể, giòn xương, suy tuyến thượng thận (dẫn đến tử vong).
Các bác sĩ khuyến cáo người bệnh tuyệt đối không tự mua thuốc thuộc nhóm này để dùng. Thuốc phải được thầy thuốc thăm khám, chỉ định và theo dõi chặt chẽ khi sử dụng.
Một số trường hợp, tiêm thuốc trực tiếp vào trong ổ khớp mang lại kết quả rất tốt, nhưng phải được tiến hành ở các cơ sở y tế, do các thầy thuốc chuyên khoa tiến hành và phải được chỉ định đúng, sử dụng thuốc đúng loại và đúng liều lượng.
Các bác sĩ khuyên rằng dù sao cũng không nên tiêm thuốc trực tiếp vào khớp.
Khoa học cũng chứng minh rằng, sử dụng thuốc y học cổ truyền cũng có thể điều trị bệnh thấp khớp. Châm cứu, bấm huyệt được chứng minh là có tác dụng giảm đau, giãn cơ, điều chỉnh vận mạch... do đó người ta thường kết hợp châm cứu, bấm huyệt để tăng thêm hiệu quả điều trị của thuốc, đồng thời còn giúp cho quá trình phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân.
Dưới dây là một số thuốc thường được sử dụng trong các bệnh về khớp:
Thuốc chống sốt rét tổng hợp nhóm quinolon
Thuốc có thể có tác dụng ức chế giải phóng men lysozym (tiêu thể) bằng cách làm bền vững màng của lysosom, do đó làm giảm phản ứng viêm trong các bệnh khớp, thuốc chỉ có tác dụng khi dùng kéo dài nhiều tháng nên hay được dùng để điều trị duy trì, củng cố.
Nhóm thuốc này được chỉ định dùng trong các bệnh lupus ban đỏ rải rác, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp mạn tính thiếu niên thể đa khớp, các thể khác của bệnh tạo keo như xơ cứng bì, viêm da và cơ..
Bao gồm các chế phẩm: amin-4 quinolein. - Tác dụng phụ thường gặp: rối loạn tiêu hóa, rối loạn tiền đình xuất hiện trong 3 tháng đầu; đục giác mạc, tổn thương võng mạc, sạm da, nhược cơ, rối loạn điều tiết mắt xuất hiện muộn hơn (sau 1 năm).
Dùng kéo dài trên 2 năm có thể gây tổn thương võng mạc nặng không hồi phục. Cần chú ý khám mắt định kỳ nếu dùng thuốc quá 6 tháng.
D-Penicillamin hay dimethylcystein (trolovol kupren)
Cơ chế tác dụng có thể là do phá hủy phức hợp miễn dịch, yếu tố dạng thấp. Được dùng để chữa viêm khớp dạng thấp thể nặng. Thuốc có thể gây một số tác dụng phụ: rối loạn tiêu hóa, dị ứng da, viêm thận, giảm bạch cầu, tiểu cầu... cần theo dõi chặt chẽ khi dùng thuốc.
Thuốc ức chế miễn dịch
Dựa vào cơ chế bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp và các bệnh tạo keo là các bệnh tự miễn dịch, người ta sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch để điều trị những trường hợp nặng và không chịu tác dụng của các thuốc khác.
Methotrexat liều nhỏ
Là một thuốc ức chế chuyển hóa do ức chế tổng hợp ADN. Do thuốc có cấu trúc tương tự acid folic nên nó tranh chấp với acid này tại vị trí hoạt động của nó trong quá trình tổng hợp pyrimidin dẫn đến giảm tổng hợp ADN. Ngoài ra, methotrexat có thể có tác dụng kháng viêm và ức chế miễn dịch.
Thuốc được chỉ định để điều trị viêm khớp dạng thấp và thấp khớp vẩy nến với liều thấp. Có thể dùng duy trì nhiều năm nếu có hiệu quả hoặc không có tác dụng phụ. Sau 3 tháng, nếu thuốc không có tác dụng thì ngừng. Liều cao được chỉ định điều trị ung thư. Tác dụng phụ: giảm bạch cầu, độc gan thận, tổn thương mô phổi.
Cyclophosphamide (cytoxan, endoxan 50mg)
Thuộc nhóm ankylan, có tác dụng liên kết với acid nhân và protein bởi các mối gắn với phân tử lớn trong tế bào, thuốc còn ức chế phản ứng miễn dịch thứ phát. Chỉ định trong bệnh lupus có tổn thương thận. Thường dùng với corticoid.
Cyclosporin A (neoral viên 25mg và 100mg, sandimmun ống 100mg) Thuốc ức chế các pha ban đầu của sự hoạt hóa tế bào T, do đó, ngăn chặn sớm sự ức chế các gen. Chỉ định trong các bệnh tự miễn, các thể viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vẩy nến kháng thuốc. Dùng đơn độc hoặc kết hợp với methotrexat.
Azathioprin (imuran 50mg)
Ức chế tổng hợp purin, chỉ định trong lupus, viêm mạch, viêm khớp dạng thấp. Các thuốc trên thường dùng với liều trung bình và kéo dài từ 1-3 tháng. Chú ý, nhóm thuốc này có nhiều tác dụng phụ, nhất là các tai biến về máu nên chỉ được dùng theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa và khi dùng phải theo dõi chặt chẽ.

Biến chứng:

Biến dạng khớp
Biến chứng thường gặp nhất và gây ảnh hưởng rất nhiều của bệnh viêm khớp dạng thấp là sự biến dạng khớp và mô xung quanh khớp, từ đó làm mất chức năng khớp. Do tác động của sự mất chức năng khớp và đau lên cuộc sống hàng ngày, có khoảng 70% số người bệnh viêm khớp dạng thấp cho rằng bệnh này cản trở không cho họ có cuộc sống bình thường.
Sau 10 năm bị bệnh, có khoảng 10-15% số người bệnh bị tàn phế, không thể tự sinh hoạt mà phải nhờ đến sự trợ giúp của người khác.
Các biến chứng của bệnh viêm khớp dạng thấp trên các cơ quan khác
Ngoài việc gây biến dạng khớp, bệnh viêm khớp dạng thấp còn gây ra các biến chứng trên các cơ quan khác của cơ thể:
- Bệnh thần kinh ngoại biên thường xảy ra ở bàn chân và bàn tay với dấu hiệu ngứa ran, tê hoặc bỏng rát, phân bố theo lĩnh vực của dây thân kinh bị ảnh hưởng.
- Yếu cơ.
- Thiếu máu do giảm số lượng hồng cầu.
- Viêm củng mạc mắt: Quá trình viêm tác động lên hệ thống mạch máu trong mắt, làm thương tổn củng mạc mắt, làm cho mắt bị đỏ và cảm giác sạn trong mắt.
- Nhiễm trùng: Người bệnh viêm khớp dạng thấp rất dễ bị nhiễm trùng, đặc biệt là khi điều trị bằng các thuốc kháng viêm.
- Bệnh da: Các vấn đề về da rất thường gặp ở người bệnh viêm khớp dạng thấp, chúng hay thể hiện ở ngón tay và vùng dưới móng. Các thương tổn có thể là mảng hồng ban, loét da, phồng rộp da, khối cứng dưới da hoặc các thương tổn khác.
- Loãng xương: Những phụ nữ sau mãn kinh có kèm viêm khớp dạng thấp có tỉ lệ loãng xương cao hơn so với những phụ nữ mãn kinh mà không bị bệnh viêm khớp dạng thấp. Ở đàn ông trên 60 tuổi mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cũng có tỉ lệ bị loãng xương cao hơn so với những người cùng lứa tuổi không bị bệnh viêm khớp dạng thấp.
- Bệnh phổi: Những người bệnh viêm khớp dạng thấp rất dễ bị mắc phải các bệnh phổi mạn tính như xơ mô kẽ phổi, tăng áp phổi… Bệnh viêm khớp dạng thấp và quá trình điều trị bệnh này đều có thể gây ra các thương tổn nói trên.
- Thận: Bản thân bệnh viêm khớp dạng thấp ít khi ảnh hưởng lên thận nhưng các thuốc điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp lại có thể gây ra các thương tổn cho thận.
- Viêm mạch máu là hiện tượng viêm tự miễn bất thường trên rất nhiều các mạch máu nhỏ, tác động đến nhiều cơ quan khác nhau. Biểu hiện của viêm mạch máu gồm có lở miệng, bệnh dây thần kinh, sự suy giảm chức năng đột ngột của phổi, viêm động mạch vành tim và viêm các động mạch nuôi ruột non.
- Bệnh tim: Những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành cao hơn so với những người không bị viêm khớp dạng thấp. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh được hiện tượng viêm mạn tính kết hợp với viêm khớp dạng thấp là yếu tố gây ra sự tăng nguy cơ nói trên.
- U lympho và các loại ung thư khác: U lympho là một loại bệnh ung thư có nguồn gốc huyết học. Người bệnh viêm khớp dạng thấp có nguy cơ bị u lympho không Hodgkin cao hơn so với người bình thường.
Quá trình viêm kéo dài của bệnh viêm khớp dạng thấp có thể đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển lymphoma. Ngoài ra cũng cần lưu ý rằng quá trình điều trị viêm khớp dạng thấp cũng có thể là yếu tố gây ra u lympho.
- Các bệnh cơ hội: Tỉ lệ người bệnh viêm khớp dạng thấp bị mắc các chứng bệnh cơ hội cao gấp 2 lần so với những người không bị viêm khớp dạng thấp. Quá trình viêm mạn tính và sự sai lệch về miễn dịch là nguyên nhân chủ yếu gây nên cả bệnh viêm khớp dạng thấp lẫn các bệnh cơ hội.
Bệnh viêm khớp dạng thấp và thai kì
Ở những sản phụ bị viêm khớp dạng thấp, nguy cơ sinh non tăng cao hơn bình thường. Ngoài ra, những sản phụ này cũng dễ bị tăng huyết áp vào giai đoạn 3 tháng cuối của thai kì so với các sản phụ khác. Ở nhiều phụ nữ bị viêm khớp dạng thấp, khi có thai, bệnh viêm khớp dạng thấp có vẻ giảm đi nhưng sau khi sinh bệnh lại tái phát và gia tăng.
Viêm khớp trẻ em
Bệnh viêm khớp trẻ em thường bắt đầu trước khi trưởng thành. Những trẻ em bị viêm ở vài khớp sẽ có tiên lượng tốt hơn so với những em bị viêm ở nhiều khớp hơn hoặc biểu hiện ở nhiều cơ quan khác nhau.
Tình trạng viêm nhiều khớp hoặc viêm nhiều cơ quan khác nhau đôi khi rất phức tạp, một số ít có thể tử vong. Hội chứng 'kích hoạt thực bào' (Macrophage Activation Syndrome – MAS) là một biến chứng nặng của bệnh viêm khớp trẻ em, đe dọa đến tính mạng trẻ bị mắc bệnh.
Khi có biểu hiện của hội chứng này (sốt liên tục kéo dài, yếu cơ, trì trệ tinh thần hoặc ngủ lịm), trẻ bị bệnh cần được điều trị ngay với các thuốc kháng viêm liều cao.

Chế độ chăm sóc:

Chế độ dinh dưỡng ở người viêm khớp dạng thấp:
Trong chế độ dinh dưỡng, người bị thấp khớp cần chú ý tới những loại thực phẩm giàu vitamin C, D, E, một số loại acid béo có tác dụng tốt với khớp.
- Acid béo omega-3: Acid này có nhiều trong các loại cá giàu chất béo, có khả năng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm thuyên giảm các triệu chứng của bệnh.
Những loại cá giàu acid béo omega-3 gồm: Cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi, cá ngừ, cá trống. Bên cạnh đó, dầu cá có thể loại bỏ tình trạng cứng khớp buổi sáng và làm giảm số lần đau khớp ở những bệnh nhân viêm khớp mạn tính.
- Vitamin C và D có khả năng cải thiện bệnh viêm xương-khớp. Vitamin E như đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương có tác dụng giảm đau chống viêm.
- Với những người bị viêm khớp, nên ăn nhiêu bắp cải. Loại rau này giống như một chất bôi trơn, làm linh hoạt chuyển động các khớp.
- Một thực phẩm khác là cà chua tốt cho người bị thấp khớp nhờ hàm lượng lycopen và chất carotenoid chống ôxy hoá. Một cốc nước ép cà chua chín mỗi ngày thực sự rất cần thiết cho việc bảo vệ sụn. Ngoài ra, một vài nhánh tỏi ăn sống hoặc chế biến cùng thức ăn cũng rất tốt cho khớp.
Và nếu bạn thích ăn các loại rau thơm như như hành, húng, mùi tây, cà rốt, rau diếp thì đó đều là những thực phẩm được khuyên dùng cho người bệnh thấp khớp.

Bài thuốc dân gian: