Viêm khớp

14/11/2016 09:47:31
Viêm khớp là một dạng rối loạn tại khớp được đặc trưng bởi hiện tượng viêm. Viêm khớp thông thường được hiểu là viêm một hay nhiều khớp. Viêm khớp th
Viêm khớp là một dạng rối loạn tại khớp được đặc trưng bởi hiện tượng viêm. Viêm khớp thông thường được hiểu là viêm một hay nhiều khớp. Viêm khớp thường có kèm triệu chứng đau khớp.
Các loại viêm khớp: Có nhiều dạng viêm khớp khác nhau (trên 100 dạng). Các dạng viêm khớp có thể có liên quan đến hiện tượng "mòn và rách" sụn khớp (ví dụ viêm xương khớp) hoặc hiện tượng đáp ứng miễn dịch quá mức (ví dụ viêm khớp dạng thấp).

Nguyên nhân:

Nguyên nhân gây viêm khớp là:
- Chấn thương dẫn đến viêm khớp.
- Bị thoái hóa khớp nặng dẫn đến tình trạng các khớp xương bị viêm.
- Di truyền, nhiễm trùng.

Các yếu tố, nguy cơ:

1. Gen: Gen là nguyên chính gây ra nhiều bệnh trong đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp ở những gia đình có tiền sử bệnh khớp.
2. Có tuổi: Khi có tuổi, sụn trở nên giòn và dễ gãy, làm các khớp xương mất đi miếng đệm, vì thế những người cao tuổi có nguy cơ cao mắc các bệnh về khớp.
3. Thừa cân: Những người thừa có nguy cơ cao bị viêm khớp do trọng lượng thừa tạo áp lực lên các khớp như khớp gối, khớp hông, khớp xương sống và khớp mắt cá chân
4. Chơi thể thao: Một số môn thể thao có thể gây bệnh viêm khớp như: khi chơi tennis do các động tác lặp đi lặp lại tại vùng khuỷu tay gây lực lên khuỷu tay. Những môn thể thao khác như bóng đá, bóng rổ gây áp lực lên vùng đầu gối lâu ngày sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp sau này.
5. Nghề nghiệp: Có một số công việc làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp như công nhân làm việc theo dây chuyền thường phải lặp đi lặp lại những động tác nhất định trong thời gian dài gây nên các dạng viêm khớp ở ngón tay, bàn tay, cổ tay, khuỷu tay và vai.
Các công việc phải mang vác nặng cũng làm tăng nguy cơ bị thấp khớp ở mắt cá chân, đầu gối, hông, xương sống và vùng cổ.
6. Do viêm nhiễm: Một số dạng viêm khớp gây nên do viêm nhiễm vi trùng và vi khuẩn từ các phần khác trên cơ thể đều có thể gây bệnh.
7. Stress: Cuộc sống căng thẳng và nhiều stress làm mất cân bằng hormon trong cơ thể, gây giảm khả năng miễn dịch với những vi khuẩn có hại, vì thế tăng nguy cơ bị viêm khớp.
8. Dị ứng thức ăn: Có những loại thức ăn kích thích gây viêm sưng ở các khớp, vì thế cần chú ý đến các loại thức ăn này.

Triệu chứng, biểu hiện:

1. Viêm khớp thoái hoá: thường gặp ở tuổi trung niên và là nguyên nhân hay gặp nhất. Bệnh gây thoái hóa lớp sụn lót của khớp hoặc mọc những gai xương gây đau khớp, cứng khớp, có khi gây mất chức năng khớp. Các khớp thường bị viêm là khớp hông, khớp gối, cột sống.
Triệu chứng thường gặp là đau, sưng, cứng một hay nhiều khớp làm hạn chế cử động như đi lại, làm việc nhà. Lâu ngày các khớp bị to ra, teo cơ do ít hoạt động vì đau khớp.
2. Viêm khớp dạng thấp: là một bệnh tự miễn (là bệnh mà hệ miễn dịch của cơ thể chống lại các mô của chính cơ thể mình - ở đây là các mô của khớp và xung quanh khớp). Các khớp thường bị viêm là khớp ngón tay, cổ tay, ngón chân, khớp gối, các khớp khác...
Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi và nữ nhiều hơn nam.
Triệu chứng thường thấy là sốt nhẹ, đau toàn thân, các khớp bị sưng, nóng, đỏ, đau, có thể xuất hiện các nốt dưới da, xét nghiệm máu tìm kháng thể đặc hiệu.
3. Bệnh gout: là bệnh viêm khớp có sự tích tụ acid uric trong khớp.
4. Viêm khớp nhiễm trùng: do vi trùng từ các vết thương gần khớp hoặc do nhiễm trùng huyết xâm nhập vào khớp. Các khớp bị viêm có mủ, sưng, nóng, đỏ đau.
5. Ngoài ra viêm khớp còn do vi trùng lao gây ra gọi là lao khớp.

Chẩn đoán bệnh:

Trước khi được chẩn đoán, bệnh nhân sẽ được:
- Thăm hỏi về tiền sử của các triệu chứng.
- Thăm khám khớp để đánh giá các tình trạng viêm cũng như sự biến dạng của khớp.
- Hỏi và thăm khám các cơ quan khác trong cơ thể để tìm kiếm dấu hiệu viêm và các triệu chứng mà bệnh có thể ảnh hưởng đến các cơ quan này.
- Tiến hành các xét nghiệm nước tiểu, máu, dịch khớp, Xquang khớp.
Chẩn đoán viêm khớp sẽ được thực hiện dựa vào việc tổng hợp thông tin từ các bước trên.
Việc chẩn đoán chính xác và sớm có thể giúp tránh được những trường hợp tổn thương khớp không hồi phục hay tàn phế. Các chương trình hướng dẫn tập thể dục đúng cách, nghỉ ngơi, uống thuốc, tập vật lý trị liệu và phẫu thuật có thể mang lại lợi ích lâu dài cho những bệnh nhân viêm khớp.

Phòng ngừa:

Nhiều người cho rằng viêm khớp chỉ xuất hiện ở độ tuổi trung niên hoặc những người có tuổi. Đó là một quan niệm sai lầm, viêm khớp có thể xuất hiện ngay từ khi còn trẻ, vì vậy để phòng ngừa viêm khớp cần phòng ngừa ngay từ khi còn trẻ.
- Giữ trọng lượng cơ thể ở mức độ hợp lý, nếu bạn đang thừa cân thì cần phải giảm cân, giảm cân chính là cách giảm trọng lượng chèn lên các xương, khớp điều này giúp các xương, các khớp không phải gánh chịu một áp lực quá lớn, giảm nguy cơ mắc bệnh viêm khớp.
- Tập thể dục thường xuyên mà không gây hại đến xương khớp. Có thể nói tập thể dục rất tốt cho sức khỏe, tuy nhiên những môn thể thao mà lặp đi lặp lại một động tác liên tục lại không tốt cho xương khớp. Một số môn thể thao được khuyến khích tập luyện giúp hạn chế bệnh viêm khớp là: bơi lội, đi xe đạp, đi bộ.
- Ăn uống hợp lý, với chế độ ăn giàu can xi, vitamin C, vitamin E để tăng cường sức khỏe cho bộ xương, ngăn ngừa bệnh viêm khớp.
- Uống nhiều nước giúp bảo vệ cơ thể, chống lại bệnh viêm khớp bởi nước chiếm 70% của sụn khớp, giúp giữ cho chúng bôi trơn để xương không chà xát lên nhau, bảo vệ khớp.
- Ngăn ngừa và điều trị chấn thương. Bong gân mắt cá chân quá nhiều, hoặc bong gân sau khi điều trị không đủ, có thể đưa bạn vào con đường dẫn đến viêm khớp ở mắt cá chân của bạn.
- Hạn chế mang vác những vật nặng.
- Nếu tính chất của công việc phải lặp đi lặp lại một hành động thì thỉnh thoảng nên đứng dậy làm một vài động tác cho thư giãn và thoải mái.
- Hạn chế căng thăng, không ảnh hưởng tới quá trình vận chuyển hormon sẽ giúp hạn chế nguy cơ mắc viêm khớp.

Điều trị:

Việc điều trị viêm khớp tùy thuộc vào nguyên nhân cụ thể gây nên viêm khớp, độ nặng và mức độ ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày. Tuổi tác và nghề nghiệp cũng là những khía cạnh cần được xem xét để bác sĩ có thể đưa ra những kế hoạch điều trị phù hợp.
Nếu có thể, việc điều trị sẽ tập trung vào việc loại bỏ những nguyên nhân gây viêm khớp. Tuy nhiên, nếu các nguyên nhân này không thể được chữa khỏi (Ví dụ như trường hợp viêm xương khớp hay viêm khớp dạng thấp) thì việc điều trị sẽ hướng đến mục tiêu làm giảm đi các triệu chứng của viêm khớp, ngăn chặn những tổn thương khớp không hồi phục hay tàn phế và mang lại sự thoải mái cho bệnh nhân.
Có thể cải thiện đáng kể các triệu chứng của viêm xương khớp và các dạng viêm khớp mạn tính khác mà không cần dùng thuốc. Thực tế, việc thay đổi lối sống mà không cần dùng thuốc là phương pháp điều trị được ưa chuộng đối với bệnh viêm xương khớp và các dạng viêm khớp khác. Khi cần thiết thì có thể sử dụng thuốc cùng với việc thay đổi lối sống.
- Tập thể dục: Đối với viêm khớp thì tập thể dục là cần thiết để duy trì khớp khỏe mạnh, giảm đau, giảm hiện tượng cứng khớp, cải thiện sức mạnh của cơ và xương. Mỗi cá nhân cần được thiết kế chương trình tập riêng bởi bác sĩ vật lý trị liệu, bao gồm: các bài tập vận động về độ mềm dẻo, tăng trương lực cơ, các bài tập về sức bền.
Các nhà vật lý trị liệu cũng có thể áp dụng những liệu pháp nóng, lạnh khi cần thiết và có thể cố định bạn bằng những thanh nẹp hay các thiết bị chỉnh hình khác để giúp nâng đỡ và điều chỉnh khớp. Điều này đặc biệt cần thiết đối với viêm khớp dạng thấp. Các nhà vật lý trị liệu cũng có thể áp dụng các liệu pháp bằng nước, mát-xa bằng nước đá, hoặc kích thích các dây thần kinh qua da.
- Nghỉ ngơi: cũng quan trọng như tập thể dục. Nên ngủ 8 - 10 tiếng mỗi đêm và ngủ trưa.
- Có thể áp dụng các biện pháp khác:
+ Uống glucosamine và chondroitin: Đây là những chất giúp tạo sụn khớp, một lớp chất đệm của mặt khớp. Một số công trình nghiên cứu cho thấy những chất này có thể làm giảm các triệu chứng của viêm xương khớp, một số nghiên cứu khác thì không. Tuy nhiên, những chất này thì an toàn và có thể sử dụng thử. Nhiều bệnh nhân nhận thấy các triệu chứng của họ được cải thiện.
+ Ăn chế độ ăn nhiều vitamin và khoáng chất đặc biệt là những chất chống ôxy hóa như vitamin E. Các chất này có trong rau và trái cây.
- Điều trị bằng thuốc
Các thuốc không cần toa của bác sĩ, bao gồm:
+ Acetaminophen (Tylenol): Thuốc này có thể làm giảm các triệu chứng mà không gây nhiều tác dụng phụ như các thuốc kê đơn. Không được uống vượt quá liều khuyến cáo của acetaminophen hoặc uống thuốc khi uống nhiều rượu vì có thể làm tổn thương gan.
+ Aspirin, ibuprofen, hay naproxen: Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) này thường có hiệu quả trong việc điều trị đau do viêm khớp. Tuy nhiên, chúng cũng có thể có những nguy cơ, đặc biệt là khi sử dụng lâu dài. Không nên tự ý sử dụng các thuốc này nếu không có sự chỉ dẫn của bác sĩ. Các tác dụng phụ có thể bao gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ (tai biến mạch máu não), loét dạ dày, xuất huyết đường tiêu hóa, và tổn thương thận. Nếu bạn có tiền sử bệnh gan, bệnh thận, xuất huyết tiêu hóa thì không nên sử dụng các thuốc này trừ khi có chỉ định của bác sĩ.
Các thuốc kê đơn bao gồm:
- Nhóm thuốc ức chế men cyclooxygenase-2 (ức chế COX-2): Nhóm thuốc này ức chế men thúc đẩy quá trình viêm có tên là cyclooxygenase-2 (COX-2). Nhóm thuốc này được cho rằng có hiệu quả như nhóm thuốc kháng viêm không steroid nhưng ít tác dụng phụ trên dạ dày hơn, nhưng có nhiều báo cáo ghi nhận các tác dụng phụ của nhóm này về nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
- Corticosteroid (Steroid): Các thuốc nhóm này có tác dụng ức chế hệ miễn dịch và các triệu chứng viêm. Thông thường, chúng được sử dụng trong các trường hợp nặng của viêm khớp dạng thấp qua đường uống hoặc tiêm chích. Các thuốc kháng viêm steroid này được sử dụng để điều trị các dạng viêm khớp tự miễn nhưng tránh sử dụng trong các trường hợp viêm khớp nhiễm trùng. Nhóm thuốc này có nhiều tác dụng phụ, bao gồm kích thích dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, cao huyết áp, loãng xương, đục thủy tinh thể ở mắt, nhiễm trùng nặng lên. Các nguy cơ càng tăng lên nếu sử dụng lâu dài và liều cao. Việc điều trị với những thuốc này cần được bác sĩ theo dõi chặt chẽ.
- Các thuốc chống bệnh thấp: Nhóm thuốc này được sử dụng để điều trị viêm khớp dạng thấp và các dạng viêm khớp tự miễn khác. Các thuốc nhóm này bao gồm penicillamine, sulfasalazine và hydroxychloroquine. Gần đây, methotrexate đã được nhận thấy là có khả năng làm chậm tiến triển của viêm khớp dạng thấp và cải thiện chất lượng cuộc sống. Methotrexate có độc tính cao, do đó cần phải xét nghiệm máu thường xuyên để kiểm tra.
- Các chế phẩm sinh học: Đây là những tiến bộ mới nhất trong việc điều trị viêm khớp dạng thấp, bao gồm etanercept (Enbrel), infliximab (Remicade) và adalimumab (Humira) qua đường chích có thể cải thiện ngoạn mục chất lượng cuộc sống. Các chế phẩm sinh học mới bao gồm Orencia (abatacept) và Rituxan (rituximab).
- Nhóm thuốc ức chế miễn dịch: Các thuốc này giống như azathioprine hoặc cyclophosphamide được sử dụng trong những trường hợp viêm khớp dạng thấp nặng mà các thuốc khác thất bại.
Điều rất quan trọng là những dạng viêm khớp khác nhau do nhiều nguyên nhân khác nhau và do đó sẽ có những cách thức điều trị riêng biệt. Không được tự ý dùng thuốc mà phải theo sự hướng dẫn của bác sĩ.
Phẫu thuật và những cách tiếp cận điều trị khác
Trong một số trường hợp, việc tiến hành phẫu thuật để tái tạo hoặc thay thế khớp mới (ví dụ thay thế toàn bộ khớp gối) có thể giúp bệnh nhân duy trì cuộc sống bình thường hơn. Quyết định phẫu thuật thay thế khớp chỉ được thực hiện khi các biện pháp điều trị khác như thay đổi lối sống và dùng thuốc không còn hiệu quả nữa.
Khớp bình thường có chứa chất bôi trơn bên trong được gọi là hoạt dịch (dịch khớp). Trong viêm khớp thì hoạt dịch không được sản xuất đầy đủ. Bác sĩ có thể tiêm vào trong khớp một loại dịch khớp nhân tạo trong một số trường hợp. Loại dịch tổng hợp này giúp trì hoãn nhu cầu phẫu thuật ít nhất là tạm thời và giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân viêm khớp.

Biến chứng:

Viêm khớp dạng thấp gây cứng và đau khớp và cũng có thể gây mệt mỏi. Bệnh khiến bạn khó thực hiện các công việc hàng ngày như xoay nắm đấm cửa hoặc cầm bút. Việc đối phó với đau và tính thất thường của viêm khớp dạng thấp cũng có thể gây trầm cảm.
Trong thực tế, người bị viêm khớp dạng thấp có thể cuối cùng phải ngồi xe lăn vì tổn thương các khớp khiến khó hoặc không thể đi bộ được. Ngày nay điều này không dễ xảy ra vì có các cách điều trị và các phương pháp tự chăm sóc tốt hơn.

Chế độ chăm sóc:

Ngoài việc sử dụng thuốc để điều trị viêm khớp thì chế độ ăn uống cũng có tác động không nhỏ tới việc hạn chế những cơn đau và góp phần tích cực vào việc kháng viêm trong điều trị viêm khớp.
Bị viêm khớp nên và không nên ăn gì?
Ngoài việc sử dụng thuốc để điều trị viêm khớp thì chế độ ăn uống cũng có tác động không nhỏ tới việc hạn chế những cơn đau và góp phần tích cực vào việc kháng viêm trong điều trị viêm khớp. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng dinh dưỡng được khuyến cáo cho người bị viêm khớp là chế độ ăn nhiều hoa quả, rau xanh và tăng cường các món ăn giàu canxi, vitamin C, omega-3, omega-6. Mặc dù chưa đưa ra một biểu đồ ăn uống cụ thể cho người viêm khớp nhưng các bác sĩ cũng khuyên các bệnh nhân viêm khớp nên và không nên ăn những thực phẩm như sau.
Những thực phẩm bệnh nhân viêm khớp không nên sử dụng:
- Muối: Muối được các chuyên gia khuyến cáo là không nên sử dụng cho người bị viêm khớp. Để hạn chế muối trong bữa ăn cách tốt nhất nên tập thói quen nấu các món ăn mà không dùng muối.
- Cà phê: chất cafein có trong cà phê sẽ khiến cho bệnh viêm khớp của bạn trở nên tồi tệ hơn.
- Soda: nói không với soda sẽ làm cho những cơn đau nhức do viêm khớp không tăng lên.
- Bột mì: Bạn không nên ăn bột mì dưới bất kì hình thức nào, bởi bột mì sẽ tình trạng viêm khớp của bạn tăng lên.
- Sữa và các sản phẩm từ sữa như fomat,…không nên sử dụng cho các trường hợp viêm khớp.
- Các loại quả như chuối, đào, cam, dứa, lê, dưa hấu là những loại trái cây có hàm lượng đường cao, vì thế không nên sử dụng dưới bất kì hình thức nào.
Ngoài những thực phẩm nên tránh với bệnh viêm khớp thì các chuyên gia cũng khuyên bệnh nhân viêm khớp nên dùng các loại thực phẩm sau:
- Trà: trà xanh và các loại trà thảo dược có tác dụng thanh lọc cơ thể, kháng viêm rất tốt cho những người bị viêm khớp. Người bị viêm khớp có thể dùng các loại trà thảo dược, trà xanh thay nước lọc hàng ngày. Nước cũng có tác dụng trong việc tái tạo lớp sụn giữa các khớp xương. 8 ly nước mỗi ngày là cần thiết cho người bị viêm khớp.
- Thịt: Các loại thịt màu đỏ không được khuyến khích cho người viêm khớp, tuy nhiên thịt gà, hải sản, cá ngừ, cá hồi… giàu chất omega-3, omega-6 tốt cho bệnh nhân viêm khớp. Tuy nhiên, không nên sử dụng nhiều, 70g protein mỗi ngày là lượng vừa đủ với người bị viêm khớp.
- Trứng được coi là một sản phẩm hoàn hảo, nhiều chất dinh dưỡng tốt, được khuyên dùng cho bệnh nhân viêm khớp.
- Rau quả: Tránh xa các loại rau quả như cà chua, khoai tây và kết bạn với những rau có lá màu xanh thẫm như súp lơ xanh, và các loại có màu da cam như bí ngô. Các loại gia vị như hành và tỏi tốt cho bệnh nhân viêm khớp.
- Trái cây: Ăn nhiều trái cây là rất tốt tuy nhiên với người bệnh viêm khớp thì lại khác, không phải loại trái cây nào cũng tốt. Nên ăn các loại trái cây giàu vitamin C như: bưởi, chanh, kiwi, các loại quả mọng.
Hệ thống miễn dịch của bạn sẽ được chữa lành khi chúng ta có chế độ ăn uống hợp lý. Sức khỏe của bạn ở trong tầm tay bạn.

Bài thuốc dân gian: